Year Book 2012

Year Book 2012

Year Book 2012

By chanh | 2:01 ល្ងាច PDT, ព្រ ឧសភា 24, 2012

NS.00_Loi Noi Dau ( Canh To )

NS.00_Loi Noi Dau ( Canh To )

LỜI NÓI ĐẦU
Môn sinh Đại Cảnh Tô
Thiền Đường Hồng Bàng

Mười sáu năm qua kể từ khi nhị vị Chưởng môn Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải thành lập Pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền (VDPHT) tại Hoa Kỳ, truyền bá Pháp cứu độ của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA cho nhân loại, pháp môn không ngừng lớn mạnh, đến nay đã có gần 50 Thiền đường trên khắp thế giới.

Cột mốc lịch sử đánh dấu khẳng định sự quan trọng, đồng thời đặt nền tảng vững chắc cho VDPHT. Vào ngày 29/05/2010, Chính phủ Hoa Kỳ chính thức trao Nghị quyết công nhận sự lợi ích và cống hiến cao quý của Pháp môn VDPHT tại Tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Môn sinh ngày càng đông, Thiền đường mới không ngừng được thành lập. Pháp Tổ là phương tiện giúp Môn sinh diệt khổ và giải thoát, là kim chỉ nam giúp con người trên con đường tu tập. Tìm học, tìm hiểu và chia sẻ sự hiểu biết về Pháp Tổ là nhu cầu bức thiết của đại đa số quần chúng. Cuốn Nội San này được ra mắt trong bối cảnh như thế để góp phần đáp ứng mong ước của các Môn sinh.

Pháp môn VDPHT không có giáo điều, không kinh nhật tụng. Mỗi Môn sinh học Pháp Tổ nhờ sự dẫn dắt của Thầy Cô Chưởng Môn, qua tài liệu và đĩa CD pháp của Pháp môn, cùng sự trải nghiệm của chính bản thân trong lúc hành pháp, cũng như tập sự hành Bồ Tát Đạo. Mỗi đau khổ trong thế gian là những bài học quý giá để Môn sinh rút tỉa từ thực tế. Mọi cơn sóng gió của bản thân trong đời thường là một bài học để Môn sinh tự rèn luyện ý chí tu học, chuyển hóa tâm thức, tự xét thành quả tu tập của mình. Từ đó mà ta cần tinh tấn hơn nữa. Pháp Tổ là một trong những hành trang trân quý được khắc sâu vào tâm thức Môn sinh để mang theo trên hành trình tiến hóa của mình.

Cuốn Nội San này là một ấn phẩm lưu hành nội bộ, tập hợp một số bài Pháp của Thầy Cô Chưởng môn, bài viết của các vị Giảng huấn và những cảm tưởng cũng như sự chia sẻ của các đồng môn qua nhiều năm tu học. Thật đúng như lời nhận xét của Cô Chưởng môn Nguyễn Ngọc Hải: “Mỗi bài viết của Môn sinh trong cuốn Nội San như một lá cây, một bông hoa nở trên cùng một thân cây”. Tư tưởng của Thầy Cô Chưởng môn ví như một thân cây và những bài viết của các môn sinh dựa trên tư tưởng đó ví như những cành cây, những bông hoa xuất phát từ thân cây, đã từ lâu do Thầy Cô dày công vun đắp, nuôi dưỡng.

Kính xin Đức Sư Tổ ban lực gia trì đến tất cả Môn sinh chúng con tinh tấn trên con đường tu học và hành pháp.

NS.01_Mung Dai Le Sinh Nhut To Lan Thu 165

NS.01_Mung Dai Le Sinh Nhut To Lan Thu 165

MỪNG ĐẠI LỄ SINH NHỰT TỔ LẦN THỨ 165
Cali ngày 24 tháng 10 năm 2011
Thầy Nguyễn Đức Thuận

Kính chào quí vị đại diện chánh quyền thành phố Garden Grove, quí vị đại diện chánh quyền Westminster, quí vị đại diện đài truyền hình báo chí, toàn thể môn sinh VDPHT khắp mọi nơi trên thế giới, về Cali tham dự đại lễ sinh nhựt Tổ.

Hôm nay là ngày đại lễ sinh nhựt Tổ, với tư cách người chưởng môn VDPHT tôi rất vui mừng trước tập thể đông đảo các môn sinh, từ khắp mọi nơi về Cali tham dự. Trong tinh thần này đã chứng minh rằng thành quả đích thực của pháp môn VDPHT đã vững vàng, lớn mạnh, mang lại nhiều lợi ích thật sự cho nhân loại. Quý vị thân mến! trong suốt 15 năm qua, từ khi thành lập VDPHT, pháp môn đã liên tục phát triển không ngừng nghỉ, ngày nay đã có gần 50 Thiền Đường trên nhiều quốc gia và đang tiếp tục làm lợi ích cho nhân loại. Quí vị thân mến! Trong cuộc đời, con người ai ai cũng ao ước, sao cho bản thân mình tìm được một đời sống tinh thần thích hợp, thật là một duyên lành cho mỗi môn sinh đang hiện diện nơi đây, tất cả đã chấp nhận VDPHT là lẽ sống tâm linh cho đời mình, mỗi người đang nỗ lực thực hiện mọi sự chỉ dạy để tu tập, đang cùng nhau hướng thượng, kiến tạo công đức luôn sống trong niềm an vui hạnh phúc.

Đức Sư Tổ DASIRA NARADA của chúng ta đã khai sanh cho loài người một Vi Diệu Pháp để giải thoát, Ngài cứu nguy cho đời bằng một phương tiện phù hợp cho toàn thể nhân loại, không phân biệt bất kỳ một dân tộc nào trên thế giới. Khi đã thọ nhận được pháp Tổ, mọi người đều dễ dàng thích nghi thực hiện, gia nhập vào đời sống tâm linh, và sẵn sàng dấn thân phụng sự giúp đời, không còn phân biệt màu da chủng tộc. Mỗi khi được về thiền đường trung ương tu học pháp Tổ, tuy ngôn ngữ là điều trở ngại lớn cho nhiều sắc tộc, nhưng Pháp Tổ nhiệm mầu khiến cho tất cả môn sinh nhập tâm am hiểu hầu như trọn vẹn, thật là điều vi diệu và thiêng liêng.

Hôm này về đây mọi môn sinh hướng tâm để thọ ơn Tổ… và cũng là dịp tốt nhất để nhắc nhở một số môn sinh chưa thật sự tu học, sự hiểu biết còn non kém, do đó tâm thức chưa được nâng cao để vận dụng thời gian sống cho có ý nghĩa, vì đời đạo song tu mà thời giờ ta dành cho đời quá nhiều, còn thời gian cho việc hành thiện lập công bồi đức thì quá ít. Nếu muốn diệt hết đau khổ phiền não, ta không thể van xin hoặc cầu cúng, dựa vào một đấng quyền năng cao cả nào ban phép mầu để cứu rỗi, muốn hết khổ chỉ có cách duy nhất là ra công hành thiện để diệt khổ, nếu ai đó có thể ban được, đó chỉ là sự lừa gạt… Khi được học pháp Tổ, các môn sinh VDPHT đều được chỉ dạy phụng sự cho đời, lập công bồi đức, ngỏ hầu tiêu trừ nghiệp chướng… Nếu ta đến sinh hoạt trong pháp môn, chỉ có tính cách vui chơi hay lập bè lập phái, thì chỉ tốn phí thời gian, chẳng lợi ích gì! công đức trí tuệ cũng chẳng phát sinh, bịnh tật không tiêu trừ, tốn công vô ích, thời gian sau đi đến tình trạng nản lòng rủng chí, sanh tâm tị hiềm, nghịch đạo phá đời, tạo ra nhiều tội lỗi. Sự việc này đã xảy ra cho một số người. Đây là bài học kinh nghiệm. Cho nên nhân dịp gặp gỡ đông đảo môn sinh VDPHT vào ngày đại lễ sinh nhựt Tổ. Là người chưởng môn đang có phần nhiệm giáo hóa và đem những kinh nghiệm đạo nghiệp ra giúp đời; Thầy Cô luôn luôn mong muốn pháp môn VDPHT được nhân rộng ra trên toàn thế giới để giúp cho nhân loại tu học, hành thiện bớt dần tội lỗi khổ đau. Tuy nhiên với tâm thì nhiều, với sức thì giới hạn, cho nên cần rất nhiều thiện tri thức cộng sự chung lực giúp đời. Đành rằng pháp môn VDPHT hiện có gần 50 thiền đường trên toàn thế giới, các môn sinh đang ra sức mỗi ngày, nhưng sự ảnh hưởng chưa thấm vào đâu… Do đó pháp môn đang cần nhiều người tinh tấn tu học, có đủ trình độ để ra công giúp ích cho đời.

Sau cùng Thầy Cô chúc tụng công đức toàn thể môn sinh các thiền đường, những năm tháng vừa qua đã có những thành quả tốt đẹp trong việc tu hành, luôn luôn vững lòng phụng sự pháp môn và tinh tấn hành trì pháp Tổ … Những gì mang lợi ích thiết thực cho đời, nó sẽ được tồn tại mãi mãi…

Thân ái kính chào, kính chúc quý vị an vui và hạnh phúc.

NS.02_Mung Dai Le Sinh Nhut To Lan Thu 162

NS.02_Mung Dai Le Sinh Nhut To Lan Thu 162

MỪNG ĐẠI LỄ SINH NHỰT TỔ LẦN THỨ 162
Thầy Nguyễn Đức Thuận
Seattle ngày 24 tháng 10 năm 2008

Nhân dịp đại lễ mừng sinh nhật Đức Sư Tổ Dasira Narada, được tổ chức trọng thể hằng năm, chúng tôi hân hoan gởi lời chúc mừng đến tất cả môn sinh VDPHT khắp mọi thiền đường, luôn an vui tinh tấn tu tập, gặt hái được nhiều thành quả công đức.

Mỗi năm vào ngày 24 tháng 10 dương lịch, pháp môn VDPHT trang trọng tổ chức hợp mặt đàm đạo, thiền định để nhắc nhở các môn sinh khắc tâm tưởng nhớ đến ân đức thiêng liêng của Ngài, vị Tổ đã khai sáng ra Vi Diệu Pháp, phương pháp tu học tâm linh, phù hợp vào thời đại văn minh mới, cứu độ cho nhân loại, giải thoát ra khỏi mọi sự đau khổ của thế gian. Nương theo đạo lý của Ngài, mọi người đều dễ dàng khai tâm mở trí, am hiểu rỏ mục đích lý tưởng, để tu hành và ứng nghiệm vào đời sống sinh hoạt hằng ngày. Ngài đã giảng dạy về hành trình tiến hóa của con người và vạn vật, diệu dụng vạch ra kỷ thuật tu thiền. Dạy cho chúng ta ý thức đi vào đời sống tâm linh, phát huy khả năng sẵn có của mình để phụng sự cho đời, tạo lập ra nhiều công đức. Với phương tiện dẫn dắt của Ngài, căn lành phát triển rất nhanh chóng, môn sinh tự cảm nhận sự chuyển hóa tâm thức rỏ rệt, thoát dần những tư tưởng vị kỷ, ràng buộc, nhỏ nhoi, thay vào đó tấm lòng vị tha, phát tâm hành thiện lợi ích cho mình và cho đời…

Trong cuộc đời, con người bao giờ cũng tham muốn, mong cầu để thỏa mãn những nhu cầu sống. Tuy nhiên họ không bao giờ toại nguyện, vì khi sinh ra, mỗi người đều có sẵn những định nghiệp đã được an bài, và sẽ thể hiện ra trong cuộc đời của họ ở thế gian. Cho nên giàu hay nghèo, phiền não hay an vui, đau ốm hoặc khỏe mạnh đều do nghiệp lành hay ác nghiệp mà con người đã tạo tác ra từ nhiều kiếp trước. Vì vậy nếu muốn có sự thay đổi hoàn cảnh, đời sống tốt đẹp hơn, ta không thể cầu xin hoặc mong ước, vì định luật nhân quả rất công bằng của tạo hóa, hầu để "nâng đở những kẻ tu hành và trừng phạt những kẻ vô minh", nên khi đã hiểu ra được điều này “chính ta là người quyết định vận mạng của mình chứ không thể trông cậy vào một ai khác”. Nay pháp Tổ ra đời cứu nguy cho nhân loại, giúp con người hiểu biết tu tập, thấu hiểu định luật của thiên cơ, không còn vô minh sai phạm, để khỏi bị trầm luân trong đau khổ, giải thoát ra những khổ lụy của trần gian. Khi tu học được pháp Tổ các môn sinh nên ý thức, ngoài đời sống vật chất, ta nên dành nhiều thời gian cho đời sống tâm linh. Phải hoạch định cuộc đời mình, sống cho có ý nghĩa, không sống vô ích, hoang phí thời gian...

Tổ dạy: “ Không có lý tưởng nào cao quí hơn, hạnh phúc hơn, lý tưởng được phụng sự cho nhân loại ”... Pháp môn VDPHT trị bịnh cứu người là phương tiện rất thực tiễn và hữu hiệu để tạo dựng công đức, phát triển được căn lành, giải trừ bớt những khổ nạn do nghiệp ác gây nên từ nhiều kiếp. Đồng thời cũng là cơ hội cho các môn sinh tiếp cận con người để học hỏi những nguyên nhân tác tạo ra mọi đau khổ; đây là bước căn bản để các môn sinh gầy dựng lòng nhân ái, kiến tạo công đức, để có vốn chi trả mọi tội lổi, sai phạm của mình trong nhiều kiếp đã vay mượn của thế gian… Khi thực hiện được những điều dạy trên, bước kế tiếp là phải tinh tấn tu tập thiền định.

Tổ dạy “ Tất cả mọi hoàn cảnh hay sự vật nào xảy ra trong thế gian đều có nguyên nhân và lý chân thật của nó ”. Nếu muốn tâm linh được thăng tiến, đòi hỏi các môn sinh phải thiền định tu học để phát triển trí tuệ, sáng suốt nhận ra chân giả của cuộc đời. Pháp Tổ chỉ dạy cho môn sinh kinh nghiệm sống, hiểu rỏ mọi sự đối đãi trong thế gian để quán triệt. Điều quan trọng cần phải lưu tâm học hỏi trong môi trường sinh hoạt, đời sống chung quanh, nơi đó sẽ biểu diển tất cả đúng sai của cuộc đời, cho ta cơ hội thấu hiểu mọi sự thật tác tạo ra nghiệp, làm khổ lụy cho con người. Khi đã trải qua những bài học kinh nghiệm, sẽ giúp cho các môn sinh có những tư duy chân thật, tự động khử trừ những tư tưởng sai lầm, để nhanh chóng trên bước đường giải thoát...

Nhân dịp mừng sinh nhật Tổ lần thứ 162, Thầy Cô chúc mừng tất cả các môn sinh VDPHT khắp mọi thiền đường tu học, gặt hái được nhiều thành quả công đức, sống an nhiên tự tại trong vòng tay thương yêu che chở của Đức Sư Tổ Dasira Narada....

Chào thân ái.

NS.03_Mung Sinh Nhut To Lan Thu 165

NS.03_Mung Sinh Nhut To Lan Thu 165

MỪNG SINH NHỰT LẦN THỨ 165
ĐỨC SƯ TỔ DASIRA NARADA
Cô Nguyễn Ngọc Hải
Seattle 24 tháng 10 năm 2011

Các môn sinh quý mến! Hôm nay chúng ta có mặt nơi đây cùng nhau mừng lễ sinh nhựt của Ngài. Đức Sư Tổ kính yêu của chúng ta, cũng là vị cứu tinh của nhân loại. Ngài đã thấy được cuộc đời vô thường giả tạm, nhưng con người bị vô minh che phủ, tham đắm cuộc đời, để rồi gặt hái toàn những sự đau khổ bất an. Vì lòng từ bi thương xót chúng sanh mà Ngài ra đi tìm đường giải thoát cho nhân loại. Nhờ tâm từ bi bác ái và tư tưởng thanh cao của Ngài, đồng với cỏi giới bồ đề. Hơn 18 năm tu luyện giao hưởng với cỏi giới bồ đề, luân xa tự khai mở, hào quang tỏa sáng, Ngài đã đạt được lục thông, thấu đáo được huyền vi của vũ trụ. Từ đó khai sanh ra Vi Diệu pháp hành thiền. Một điều đáng mừng cho nhân loại. Ngài đã tư duy ra phương pháp khai thông luân xa, giúp con người thiền định hướng thượng, tu hành, với mục đích là đánh thức linh hồn, đã từ lâu bị mê muội. Một khi linh hồn thức tỉnh, con người dần dần thoát ra khỏi sự ham muốn thấp hèn, hướng tâm về sự hy sinh cao thượng, quên mình, giúp đời, tạo dựng công đức. Các môn sinh VDPHT phải biết rằng linh hồn cũng cần bổ dưỡng như thể xác, cho nên tư tưởng thanh cao, cộng với lòng từ bi bác ái nó sẽ là chất bổ dưỡng để nuôi nấng linh hồn, cũng như ta lấy thực vật nuôi sống thể xác và nhờ thiền định ta mới quay về với nội tâm, để lắng nghe tiếng gọi của thiêng liêng, luôn kêu gọi linh hồn trở về cội nguồn. Là môn sinh VDPHT phải biết cuộc đời, đầy dẫy những sự đau khổ bất an, là con Tổ ta phải hòa mình trong mọi hoàn cảnh để cứu người giúp đời, đem an vui hạnh phúc đến cho cuộc đời. Nếu không có tinh thần đó, thì ta tự tách mình ra khỏi pháp môn, ra khỏi tình yêu thương của Tổ.

Vì muốn làm con Tổ để được sống trong tình yêu thương của Ngài, nên chúng ta mới thành lập thiền đường để có nơi hành thiện, giúp người cứu đời và đem pháp Tổ truyền vào tâm thức cho mọi người, hầu giúp họ nhận ra được nguyên nhân tác tạo mọi sự đau khổ, phiền não, từ đó họ thức tỉnh tu hành diệt khổ và giải thoát. Tất cả môn sinh VDPHT phải lấy sự an lành của người, làm sự an lành của mình, lấy sự tiến hóa của người làm sự tiến hóa của mình, như vậy đối tượng của ta là con người và nhiệm vụ của ta là giúp cho mọi người tu học tiến hóa.
Pháp môn VDPHT được xây dựng trên nền tảng tình thương. Vì vậy các môn sinh phải tích cực vận động năng lực của tình thương để soi sáng cuộc đời, chuyển hóa con người hầu xây dựng thế giới tình người, sống an lành và hạnh phúc. VDPHT là môn khoa học tâm linh giảng giải rỏ ràng về vũ trụ, con người và vạn vật, hầu giúp cho con người có sự hiểu biết để giải quyết mọi vấn đề nan giải của kiếp sống làm người. Còn một điều rất quan trọng mà các môn sinh cần nên biết. Trần gian là ngôi trường để các tiểu hồn học hỏi và cũng là địa ngục để rèn luyện tiểu hồn khi còn vô minh nặng trược, tiểu hồn phải chịu trầm luân để học hỏi kinh nghiệm và phải chịu đựng luật nhân quả mài giũa gạn lọc, cho đến khi nào đầy đủ trình độ hiểu biết để tiến hóa.

Cảnh địa ngục vô hình thì con người chưa thấy được, còn địa ngục hữu hình nó diễn bày ra mỗi ngày. Nào là cảnh thảm sát dã man, chiến tranh tàn bạo, cảnh áp bức, xâu xé lẫn nhau để thỏa mãn lòng ích kỷ, hận thù. Từ đó con người đem những chiêu bài đẹp đẽ nhứt, để thực hiện những điều xấu xa tội lỗi nhứt! Nào là những chiêu bài vì người để giết người. Vì lý tưởng tôn giáo để giết người! Nhân danh thượng đế để giết người. Gây cảnh chết chóc tang thương không hề biết xót thương tình đồng loại. Đây là cảnh địa ngục trần gian, nó được tạo dựng từ những dục vọng khởi sinh của bản ngã thấp hèn, cũng vì vắng bóng tình thương nên con người mới trở thành độc ác gây họa cho đời, rồi phải gánh chịu những hệ lụy trầm luân đau khổ!

Vì muốn cứu nguy cho nhân loại nên Đức Sư Tổ DASIRA NARADA khai sinh ra VDPHT, dạy cho con người tu nhân tích đức, biết yêu thương và có trách nhiệm với cuộc đời. Đó là cách duy nhất phá tan những dục vọng thấp hèn để giải thoát linh hồn ra khỏi trần lao nghiệp chướng.

NS.04_The gioi thu hep

NS.04_The gioi thu hep

THẾ GIỚI THU HẸP
Cô Nguyễn Ngọc Hải
Ngày 09 tháng 10 năm 2008

Tổ dạy, ngày nay thế giới có nhiều sự thay đổi, khoa học kỹ thuật đã làm biến dạng địa cầu, những phương tiện viễn thông hiện đại đã khiến các dân tộc dễ dàng gặp nhau. Biển đã thu nhỏ như những con kênh và núi đã biến thành gò, những hàng rào chia cách nhân loại đã được xóa bỏ; bây giờ tới lúc những hàng rào tâm lý và tinh thần cũng nên xóa bỏ. Mục đích VDPHT ra đời hầu giúp cho nhân loại mở rộng sự hiểu biết, để mở đường cho sự cảm thông và thống nhất trên toàn thế giới. Qua bao thế kỷ và thiên niên kỷ, tôn giáo bị xem là nguồn gốc của sự chia rẽ, thành kiến, bất hòa, nhưng thật sự tôn giáo phải là nguyên nhân của sự hòa đồng thống nhất.

Tổ dạy, những sự chia rẽ thành kiến bất hòa là do con người chứ không phải tại tôn giáo. Vì các vị Giáo Chủ đồng là sứ giả của Thượng Đế, các Ngài tới thế giới này từng thời kỳ khác nhau để giáo dục và điều khiển quá trình phát triển của nhân loại. Tuy các tôn giáo khác nhau về hình thức, nhưng cùng một nguồn gốc và mục đích, đó là cứu giúp cho con người đi kịp cơ tiến hóa của vũ trụ. Vì chúng sanh mê muội nên không thấy được sự liên hệ của các Ngài, họ luôn nghĩ rằng các Ngài là đối thủ của nhau, tranh dành nhau sự tôn thờ của nhân loại. Và cho rằng người theo tôn giáo này không được tôn thờ tôn giáo khác, chứ họ không biết rằng ánh sáng chân lý của các Ngài đều xuất phát cùng một nguồn gốc, vì vậy các Ngài không bao giờ chống đối nhau mà sự chống đối thù nghịch nẩy sinh từ các tin đồ thiếu hiểu biết.

Tổ dạy, không thể dùng trí phàm phu để mô tả quyền năng của các đấng cứu thế. Qua từng thời đại, Thượng Đế cử các Ngài đến thế giới này để dẫn dắt nâng cao trình độ con người, theo nhu cầu thay đổi của mỗi giai đoạn khác nhau, trong cuộc tiến hóa không ngừng của nhân loại. Các Đấng sứ giả thường xuất hiện vào thời kỳ đạo lý suy đồi, tâm linh suy thoái, con người đầy lòng ích kỷ, thù hận, hung bạo, dao động. Các Ngài đến thế giới này dùng huấn từ thiêng liêng có sức biến cải, để giúp cho con người quyết tâm tu sửa hầu tiến bộ về mặt tâm linh. Những chân lý cao siêu và quy luật xã hội do các Ngài giảng dạy luôn luôn đáp ứng nhu cầu của thời đại. Cho nên tùy thời gian và không gian, đấng sứ giả nào nhận trách nhiệm độ đời, thì vị đó phải tư duy tìm ra đường hướng thích hợp, để dẫn dắt nhân loại đi đến tầm cao thiên định của tập thể vinh quang.

Sư Tổ Dasira Narada nhận trách nhiệm cứu giúp nhân loại ở thế kỷ 21 này. Thế kỷ mà con người đầy dẫy những sự đau khổ và bất an. Ngài đã tư duy tìm ra một phương pháp giúp cho con người tu sửa thân tâm để trở về với con người thật của chính mình, hầu nhận thức được chân giả của cuộc đời và sống một cuộc sống có ý nghĩa, rồi tìm đường diệt khổ và giải thoát cho mình và cho cả nhân loại.

Tổ dạy, ngày nay các môn sinh phát nguyện theo Ngài phụng sự thế gian, thì phải có bổn phận gìn giữ và làm cho pháp môn ngày càng phát triển. Trong mỗi thiền đường phải xây dựng nền tảng vững chắc đó là tình thương yêu, mỗi sinh hoạt phải căn cứ trên sự bình đẳng và tôn kính nhau. Các vị giảng huấn, các trung tâm trưởng, và các môn sinh cao cấp, có nhiệm vụ truyền bá pháp Tổ, cần phải hiểu pháp thật chính xác, mới có sức thuyết phục để mọi người tin theo. Các môn sinh là những người mang chí nguyện theo Ngài tu học, không được có tư tưởng, hành động và lời nói của người đời thường, mà phải có tư tưởng, hành động, lời nói phi thường, có sức chịu đựng phi thường, thì mới xứng đáng là đệ tử của Tổ. Nếu làm được như vậy thì Ngài sẽ hợp tác với ta, và ta hội nhập vào thế giới của Ngài, rồi trực tiếp nhận chỉ thị của Ngài để đem ra phụng sự cho nhân loại.

Tổ dạy, trong mỗi thiền đường có nhiều thành phần, nhiều quan điểm khác nhau, là người lãnh đạo tinh thần ta phải biết điều hòa, hợp nhứt. Muốn hoàn thành sự tổng hợp này ta phải có thái độ bao quát, xem xét thật rõ ràng rồi dùng trí tuệ phân biệt phải trái, chánh tà, để ta hành xử đúng theo quy luật của pháp môn. Nếu không có trí tuệ để nhận xét chính xác, không biết rõ mục đích của pháp môn ta sẽ đưa pháp môn đi sai đường lối mà Sư Tổ đã đặt ra, để rồi phá hoại con đường tiến hóa của nhân loại, thì chính ta sẽ bị trừng trị bởi luật nhân quả.

Tổ dạy, các Đấng Thiêng Liêng luôn xoay chuyển bánh xe tiến hóa, giúp cho con người hiểu biết tu sửa để nhanh chóng đi đến chỗ đồng nhất. Là môn sinh VDPHT phải biết hy sinh quyền lợi của bản thân, đóng góp công sức của mình để cùng với các Ngài xoay chuyển bánh xe tiến hóa của nhân loại. Muốn làm đươc điều này ta phải lấy chữ hòa làm chính. Chữ hòa không phải danh từ suông cũng không phải là lời khuyên có tính cách luân lý. Ngược lại nó có nội dung rất dồi dào dựa trên căn bản triết lý vững chắc và sâu rộng.

Tổ dạy, là Môn sinh VDPHT muốn đạt tới chỗ hòa đồng, thì trước tiên phải có trí tuệ xuất thế, từ trí tuệ này ta mới thấy được vũ trụ, con người và vạn vật là một tổng thể bất khả phân. Cho nên trong bài thơ “Chân Lý” Tổ dạy: “Tâm mưu cầu cho hạnh phúc đại đồng. Tâm xây dựng cho mọi người chung hưởng. Tâm nhận thức vạn vật đồng nhất thể. Tâm thánh hiền ngộ chân lý vô tư”. Tuy hình tướng bên ngoài có khác nhau nhưng bản thể bên trong tất cả xuất phát từ một nguồn gốc đó là Thượng Đế. Người tu hành không có trí tuệ để thấy rõ điều này, thì họ sẽ dùng cái trí phàm phu để thấy cái ta riêng biệt, mà cái ta nầy thì đầy những sự mê lầm, tham lam, ích kỷ. Cái ta nầy ngăn cách giữa con người với các Đấng Thiêng Liêng, và gây xung đột mâu thuẫn giữa con người với con người; cái ta này sẽ biến con người thành chai đá, không còn biết rung động thương yêu để hòa mình cùng vạn vật.

Tổ dạy, các bậc có trí tuệ xuất thế nhìn thời gian và không gian đều thấy nó không thể tách rời; quá khứ, hiện tại, tương lai, luôn luôn nối tiếp giao hòa không dứt. Thế giới vạn vật do sự đối đãi hình thành. Như Bắc đối với Nam, Đông đối với Tây. Có sinh phải có tử, có sáng phải có tối. Tất cả là do sự đối đãi mà có. Không có vật gì có thể tồn tại riêng rẽ được. Vì bản thể của vũ trụ là một toàn thể, là một sự chung cùng hòa hợp, cho nên con người biết hòa hợp đoàn kết thì tồn tại; còn ngược lại, xung đột chia rẽ là tự diệt. Là môn sinh VDPHT muốn tồn tại trong thời thánh đức thì phải hiểu rốt ráo sâu xa về chữ hòa và đặt nó trên căn bản của trí tuệ sáng suốt. Nếu hiểu nó một cách phiến diện, nông cạn, cho dù tu muôn đời cũng không thể nào giải thoát.

Tổ dạy, nếu các môn sinh muốn đi đến chỗ hòa đồng thì trước tiên phải có tâm bình đẳng, nhờ có tâm bình đẳng nên ta không còn tính toán hơn thua để gây sự xung đột bất hòa. Ngoài sự bình đẳng các môn sinh phải có tình thương rộng lớn, vì tình thương là động lực chánh thúc đẩy con người hy sinh, tha thứ, nếu không có tình thương thì dễ đưa con người tới chỗ xung đột, chiến tranh; vì vậy môn sinh nào muốn tu đạt tới chỗ hòa đồng, ngoài sự bình đẳng phải có tình thương yêu chân thật. Đây là những nền tảng vững chắc để xây dựng thế giới hòa đồng.

NS.05_Ao tuong va thanh kien

NS.05_Ao tuong va thanh kien

ẢO TƯỞNG VÀ THÀNH KIẾN
Cô Nguyễn Ngọc Hải
29-05-2010

Tổ dạy, tất cả con người ở thế giới này đều mong muốn được sự bình an và hạnh phúc, nhưng ít ai đạt được sự bình an và hạnh phúc, vì trong cuộc sống hàng ngày con người cứ mãi tạo ra cái nhân đau khổ bất an, thì cái quả của họ phải gặt hái là sự đau khổ bất an. Vì lý do đó mà pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền ra đời, giúp cho nhân loại một phương cách để tạo dựng sự bình an và hạnh phúc. Đó là tình thương yêu chân thật giữa người và người. Tổ dạy, khi các môn sinh biết thương chính mình thì đừng bao giờ hại người khác vì tất cả là một, đều có quan hệ mật thiết với nhau, bảo vệ chăm sóc người cũng là bảo vệ chăm sóc mình. Là môn sinh VDPHT phải thực thi trên mọi lãnh vực trong mọi quan hệ giữa mình và người, và tất cả môi trường chung quanh. Tất cả mọi việc trên đời này đều gắn bó chặt chẻ với nhau, những gì ta nghĩ và làm dầu là việc nhỏ nhưng rồi nó cũng ảnh hưởng tới việc lớn. Do đó, nếu các môn sinh muốn cuộc đời mình được bình an hạnh phúc thì phải biết sống trong hoà hợp thương yêu.

Tổ dạy, muốn đạt được những điều trên thì các môn sinh phải dẹp bỏ mọi thành kiến về tôn giáo - chủng tộc, vì những thành kiến này làm cho thế giới bệnh hoạn. Đó là một căn bệnh truyền nhiễm ghê gớm cần phải ngăn chận nếu không nó sẻ hủy diệt cả nhân loại; vì tất cả chiến tranh đổ máu đều do những thành kiến này tạo nên. Thế giới càng ngày chiến tranh càng lang rộng, là do hận thù tôn giáo cuồng tín, hoặc do thành kiến chủng tộc màu da, chỉ khi nào những hàng rào thành kiến được phá bỏ, thì thế giới mới có hòa bình, nhân loại mới được an vui. Nếu các giáo sĩ biết tôn kính Thượng Đế thật sự, thì họ phải dạy môn đồ của họ về tình yêu thương và sự bình đẳng đối với mọi người, nhưng ngược lại chính họ đã khuyến khích sự hận thù phân chia giữa các tôn giáo. Tổ dạy, về vấn đề thành kiến chủng tộc - tôn giáo là do ảo ảnh và mê tín. Vì tất cả con người đều xuất phát từ Thượng Đế, cho nên ngay từ lúc ban đầu đã không có phân biệt chủng tộc, cũng không có biên cương giữa xứ này với xứ khác, và không có vùng nào trên trái đất thuộc nhóm người này hay nhóm người kia. Đối với Thượng Đế không có phân biệt chủng tộc, thì tại sao con người tạo nên thành kiến? Tại sao con người duy trì chiến tranh bởi các ảo ảnh đó? Môn sinh VDPHT phải rời bỏ mọi thành kiến và sự tưởng tượng của mình, thì sẽ thấy được sự liên hệ giữa mình và người, giữa dân tộc này với dân tộc kia, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác, không thể phân chia, lúc này các môn sinh sẽ hiểu được chân lý, và cùng nhau đi đến chỗ hợp nhất hòa đồng thì cuộc đời mới được bình yên hạnh phúc thật sự.

NS.06_Sinh Nhut 15 nam cua Phap mon VDPHT

NS.06_Sinh Nhut 15 nam cua Phap mon VDPHT

SINH NHỰT 15 NĂM CỦA PHÁP MÔN VDPHT
Giảng huấn Điệp Nguyễn

Hôm nay, lại cũng là một ngày thực đặc biệt. Tất cả các môn sinh của pháp môn VDPHT hội tụ về đây để cùng đón mừng thêm một lần sinh nhựt nữa, đó là lễ đánh dấu 15 có mặt của pháp môn VDPHT trên thế giới.

Đức Sư Tổ DASIRA NARADA,người đã tìm ra việc khai mỡ LX và dẩn đưa con người vào một đại lộ mầu nhiệm để dần giúp cho con người đi đến diệt khổ và giải thoát. Nhưng người thực sự đã đem tư tưởng của Sư Tổ trong thế giới tâm linh đến cho con người lại chính là thầy Nguyễn Đức Thuận và cô Nguyễn Ngọc Hải, hai vị thầy thân thương, gần gũi của chúng ta. Người đã khai sinh ra VI DIỆU PHÁP HÀNH THIỀN, để các môn sinh hôm nay có được phương pháp rỏ ràng, được giảng dạy từng cấp một, để trở thành kim chỉ nam trên bước đường tu học trọn đời của chúng ta. Hai vị thầy này đã hy sinh hết tuổi trẻ và dành trọn cuộc đời mình, tài sản của mình ngày đêm tư duy để tìm một phương pháp rỏ ràng dẫn dắt con người thuần nhứt trên từng bước đường tu học trở về nguồn cội. Từ đó pháp môn Thiền Định này mới được mang danh xưng là một khoa học tâm linh.

Trong 15 năm qua thầy cô, không ngại gian khó, đã khai mỡ được gần 50 TĐ, hằng ngày đều hoạt động tích cực ở nhiều nơi trên thế giới bao gồm như sau:
TĐ Trung Ương tại Seattle WA
Ngoài TĐ trung ương, ở Mỹ có 17 TĐ, Canada có 12 TĐ, Úc châu có 6 TĐ, Hong Kong 1 TĐ, Cambochia 2 TĐ, Malaysia 2 TĐ, Tây Ban Nha 1 TĐ và VN 7 TĐ.

Theo thông lệ, tiếp theo đây, ban tổ chức sẽ tổng kết về hoạt đông trong năm vừa qua. Một năm của pháp môn là thời gian giữa 2 lần sinh nhựt Sư Tổ. Trong 12 tháng qua với gần 50 Thiền Đường hoạt động tích cực không ngừng nghĩ, có giấy phép minh bạch và được các chánh quyền địa phương khen ngợi, ca tụng. Nhưng điểm đặc biệt hơn nữa là các Thiền Đường đã âm thầm hoạt động và đến nay chưa hề nhận nguồn trợ cấp nào từ bên ngoài. Các chi phí đều do các môn sinh đóng góp. các lớp tu học ở mọi cấp đều miễn phí. Trong năm vừa qua chúng ta vui mừng tổng kết được 94 khóa tu học thiền định thực sự đã được tổ chức ở các thiền đường trên. Trong đó bao gồm : cấp 1&2, 53 lớp, cấp 3, 33 lớp, cấp 4, 4 lớp, cấp 5-6-7, 3 lớp, cấp giảng huấn 2 lớp.

Bảng tổng kết này là thành quả tu học của chúng con xem như là một món qua dâng lên Ngài. Ngoài thầy Cô và 8 giảng huấn, bắt đầu từ nay chúng con có thêm 15 giảng huấn vừa được đào tạo. Đây là thế hệ thứ hai, với sự hiểu biết trong sáng, đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ sẽ tiếp tay với thầy cô để mỡ rộng hơn nữa tình yêu của Ngài cho mọi người và chúng con chắc rằng lần sinh nhật năm sau sẽ dâng lên Ngài những thành tựu tốt đẹp hơn. Chúng con mong ước luôn được Ngài dẫn dắt và giúp đỡ.

NS.07_Hay cung nhau

NS.07_Hay cung nhau

HÃY CÙNG NHAU
Giảng huấn Nguyễn Lâm
Ngày 17 tháng 11 năm 2011

Kính thưa Thầy, Cô Chưởng môn,

Cùng tất cả huynh đệ đồng môn thân thương,

Trong không khí chuẩn bị cho mùa đại lễ kỷ niệm sinh nhật Đức Sư Tổ Dasira Narada lần thứ 165 sắp diễn ra, chắc chắn mọi người đã và đang hướng tâm về Đức Sư Tổ muôn vàn kính yêu của chúng ta.

Sao ngọt ngào quá khi nghĩ về Tổ!!!,và hạnh phúc thay khi được làm con của Tổ.

Nhân cơ hội đặc biệt này, chúng tôi xin được một lần gởi đến toàn thể huynh đệ những lời thăm hỏi, nguyện cầu chất chứa thật nhiều yêu thương. Trong thế giới rộng lớn, và với gần 50 thiền đường nằm rãi trên các châu, có thật nhiều huynh đệ, chúng tôi chưa một lần gặp gỡ, chuyện trò nhưng sao vẫn luôn thấy thật gần gũi, thật thiết thân. Nhắm mắt lại để thấy hàng ngàn huynh đệ đang lắng sâu trong thiền định, tu sửa đời mình; mở lòng ra để cảm nhận biết bao đồng môn đang dấn thân vượt qua nghịch cảnh để cứu đời, để làm vơi đi biết bao nỗi đớn đau của kiếp nhân sinh. Xin thành kính tri ơn Tổ đã dạy cho chúng con bài học yêu thương. Tri ân Tổ đã dạy cho chúng con từ lòng yêu thương mới tìm thấy lại, tạo dựng lại cho chính mình một đời sống có ý nghĩa hơn.

Hỡi huynh đệ đồng môn, với hành trang bắt đầu cho một cuộc sống có ý nghĩa hơn là sự tạo dựng lại lòng yêu thương từ lâu đã dần lãng phai, chúng ta đã được nhắc nhở ở cấp 1&2 là chính chúng ta phải bắt đầu thương lấy mình, và thực sự sống cho mình. Xin hãy nhìn thật kỹ để thấy được sự sâu sắc của pháp Tổ trong lời dạy này. Trong một góc cạnh nhỏ của Bi trong Bi,Trí, Dũng của pháp Tổ qua sự truyền đạt của Thầy, Cô chưởng môn đã dạy chúng ta một cách sâu xa và trọn vẹn là hãy thương mình và yêu người; hãy thực sự làm tốt bản thân mình qua thiền định, tu sửa để từ đó khả năng giúp người chắc chắn sẽ ngày một đạt kết quả hơn. Và vậy thì, nhân mùa lễ này, xin tất cả huynh đệ chúng ta hãy lắng lòng để một lần trung thực nhìn lại mình có còn vướng mắc chút nào trong yêu thương không:

- Đã có bao giờ huynh đệ cảm nhận rằng thiền định là một phần của đời sống của mình chưa?

- Đã từ (hoặc có) bao giờ huynh đệ cảm nhận thiền đường là mái gia đình thứ hai của mình và huynh đệ ngày ngày đến thiền đường hành pháp trong niềm tin yêu, chứ không vì bất kỳ một áp buộc hoặc quyền lợi nào chưa?

- Đã từ (hoặc có) bao giờ huynh đệ đã không còn ganh ghét, đố kỵ anh chị em đồng môn trong thiền đường mình chưa?

- Đã từ (hoặc có) bao giờ huynh đệ, dầu ở bất cứ vị trí, chức phận nào trong thiền đường, đã không còn đối xử bất bình đẳng, kẻ trọng người khinh với đồng môn trong thiền đường chưa?

- Quá trình tu tập không phải chỉ dừng lại ở việc thiền định một ít thời gian mỗi ngày, cùng giúp bệnh cho vài bệnh nhân là đủ, vậy huynh đệ đã có bao giờ hạ quyết tâm là sẽ thực sự dấn thân vào việc tu sửa đời mình trong từng giây, từng phút của cuộc sống chưa?

Ước mong là sẽ không có huynh đệ nào trả lời “chưa” cho bất kỳ câu hỏi nào đã được nêu ra…

Xin được gởi lời thăm hỏi và chúc mừng đến tất cả các “tân” giảng huấn của pháp môn!!! Tha thiết ước mong rằng những môn sinh trong các khóa học VDPHT do lực lượng giảng huấn chúng ta dẫn dắt sẽ là những người rao giảng pháp Tổ trên toàn thế giới trong tương lai.

Xin trân trọng chúc mừng Thầy, Cô chưởng môn với thành quả của sự phát triển lớn mạnh của pháp môn trên thế giới. Hơn 15 năm khó nhọc với bao nhiêu tâm huyết Thầy, Cô đã bỏ ra cho toàn thể môn sinh có được hạnh phúc hôm nay. Xin chân thành tri ân Thầy, Cô đã trực tiếp khai mở và dẫn dắt bản thân chúng tôi trong quá trình tu tập hơn 12 năm qua.

Hỡi huynh đệ đồng môn, với Đức Sư Tổ kính yêu luôn ngự trong ta, hãy xiết chặt tay nhau trên bước đường tu tập, hành pháp cứu đời.

Hãy cùng nhau hướng tấm lòng đến những chốn tối tăm trong cuộc sống.

Hãy vươn đôi tay xoa dịu nỗi đớn đau của kiếp người.

Hãy cùng nhau tinh tấn theo lời Tổ kính yêu đã dạy.

NS.08_To chuc Khoa hoc Cap 5 tai California

NS.08_To chuc Khoa hoc Cap 5 tai California

VI DIỆU PHÁP HÀNH THIỀN
TỔ CHỨC KHOÁ HỌC CẤP 5 TẠI CALIFORNIA
từ 24 đến 26 – 6 - 2011
Giảng huấn Phạm Phú Hay
28-06-2011

Thường năm, khoá học cấp cao Vi Diệu Pháp Hành Thiền tổ chức tại thiền đường Seattle. Đặc biệt năm nay, thể theo thỉnh cầu của các thiền đường California, lớp cấp 5, lần đầu tiên mở tại California, Little Saigon, trung tâm văn hoá và kinh tế của người việt hải ngoại. Đồng môn Khưu Thái, trung tâm trưởng thiền đường Orange county đã được thầy cô chưởng môn cho ủy nhiệm làm trưởng ban tổ chức khoá học cấp cao nói trên, với sự cộng tác của các huynh đệ đồng môn. Thiền đường trung ương Seattle, Rosemead, Canoga Park, Roland Heights… từ chiều 23-6-2011 gần 100 môn sinh được xét cho lên cấp kỳ này, đã lần lượt tề tựu về California tham dự lớp tu học được tổ chức tại hội trường khách sạn Ramada số 10022 Garden Grove Blvd, thành phố Garden Grove, CA. Đồng thời, các môn sinh khác theo phụ lớp của các thiền đường liên hệ cũng tới nơi, tổng số khoảng 150 môn sinh của 19 thiền đường về dự khoá học cấp 5, nổi bật nhất là thiền đường Tây Ban Nha và Hồng Kông, tuy xa xôi nhưng vẩn bảo đảm thời gian nhập học đầy đủ.

Lớp học diễn ra tại phòng hội trường của khách sạn rộng rãi, thoáng mát, trang hoàng, toát lên vẻ uy nghi có sức chứa trên 200 người. Bàn thờ tổ thật trang nghiêm nhất là trong lễ khai mạc cùng thầy cô chưởng môn và các giảng huấn, trung tâm trưởng và môn sinh nhất tề niệm hương, cầu nguyện và hát pháp ca như thức tỉnh mọi người giờ linh thiêng đã tới, thần lực của Đức Sư Tổ Dasira Narada như hào quang phủ sáng khắp mọi người… Đồng môn Khưu Thái, trưởng môn tổ chức phát biểu về quá trình chuẩn bị và hình thành khoá học, giảng huấn Nguyễn Ngọc Điệp nêu bật ý nghĩa về địa điểm mới California và sau đó, toàn thể môn sinh được sắp xếp “thiền đứng” trong nhiều giờ kế tiếp.

Buổi chiều 24 và 25 – 06 – 2011, thầy cô chưởng môn giảng dạy; đây là chương trình thiết thân tu học tâm linh nên các môn sinh rất háo hức chờ đợi. Cô chưởng môn Nguyễn Ngọc Hải được cả hội trường hoan nghênh nhiệt liệt bằng những tràng pháo tay không dứt khi mở đầu. Bài cấp 5 qua nhiều đoạn mức mẫu, mũi lòng, đánh động chân tâm người nghe, “ truyền pháp bằng tâm và nhận pháp bằng tâm” – “tâm truyền tâm” đã thuyết phục môn sinh “vi diệu pháp” một cách vô cùng hiệu quả, thấm thấu…

Thầy chưởng môn Nguyễn Đức Thuận cũng được cả hội trường đón mừng nồng nhiệt và còn hơn thế nửa, thầy chưởng môn giảng tới đâu thì pháo tay vang dậy tới đó, khi thiết tha, lúc bóng đùa . Thầy luôn luôn thể hiện tình thương và sự uy nghi của người lãnh đạo. Qua tài liệu, trí tuệ, thể hiện ngôn từ, tuông chảy không dứt, khi giảng về luật tiến hoá, nhân quả, luân hồi nghiệp chướng … thầy đã cuốn hút các môn sinh. Hội trường nhiều phăng náo động vì pháo tay, vì nức lòng, các ưu tư, thắc mắc được giải tỏa… Con người từ đâu đến, Đi về đâu? Rồi sẽ ra sao? Thế giới loài người, loài vật, cây cỏ, các ngôi tầng thượng đế, tiên, phật, thánh thần, cõi bồ đề, niết bàn, hạ giới, vv…được giải bày một cách chính xác, rốt ráo.. Ngày nào các bài giảng của cô thầy chưởng môn cũng kéo dài tới khuya mà môn sinh vẫn “kò kè” xin thêm, thêm nữa …

Và, ngày cuối cùng 26-6-2011, đã tới, mang lại niềm ước mơ và thiêng liêng nhất của môn sinh: mở luân xa cấp 5. Tuy số người khá đông, nhưng thời gian dự trù khá chính xác, bắt đầu từ 9 giờ sáng mãi đến gần 3 giờ chiều mới hoàn tất. Ôi, giây phút thiên thần này, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ thế gian, bao nhiêu ngọc ngà châu báu cũng không đổi được cảm giác khi chứng kiến quang cảnh “có một không hai” này, các môn sinh chỉ còn biết ôm nhau, nước mắt ràn rụa, thút thít, nghẹn lời “chúc mừng, chúc mừng…”

Thầy cô chưởng môn cũng chạnh lòng oà khóc ... họ tiến tới, ôm hôn thầy cô, thắm thiết, nỗi lòng biết lấy chi cân!” khắp hội trường bừng sáng lên ánh hào quang của Đức Sư Tổ!…

Có “hợp” là phải có “tan”. Lễ mãn khoá với nhiều bài phát biểu của các giảng huấn, trung tâm trưởng, môn sinh, đầy xúc động, ban tổ chức hướng dẫn các đồng môn tham gia vào các nhóm phụ trách ẩm thực, đón đưa, phụ lớp… trình diện trước thầy cô chưởng môn với những tràng pháo tay vang dội… Hơn 3 ngày, thầy trò cùng chung sống với nhau bình yên, an lạc, bỏ hết bên ngoài những lo lắng, phiền não của thế gian, họ như đi vào một thế giới vô ưu, tâm linh trong sáng, trí tuệ hướng thượng … ôi, chốc lát nữa đây cuộc chia tay sẽ bùi ngùi, lưu luyến biết bao nhiêu, ai nấy trở về với bổn phận đời thường, những lời giảng dạy của thầy cô chưởng môn ấn sâu vào tâm thức mỗi người, luôn nhắc nhỡ họ làm tròn nhiệm vụ của người con Tổ đối với bản thân gia đình và xả hội. Tinh thần phụng sự được nâng lên tầm cao mới... sự phát triển lớn mạnh của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền trên khắp thế giới như dòng thác lũ, từ 32 thiền đường hồi 29-5-2010 (đại lễ kỷ niệm 14 năm thành lập pháp môn tại hải ngoại), tới nay có gần 50 thiền đường hiện đang hoạt động trên toàn thế giới như sau: tại Mỹ có 15TĐ, Canada 12TĐ, Úc 6TĐ, Mã Lai 2TĐ, Hong Kong 1TĐ, Cambochia 2TĐ,Tây Ban Nha 1TĐ và Việt Nam 7 TĐ.

Tuy là cơ sở vật chất, giả tạm, nhưng chính nơi này là quả tim, là khối óc vận hành tu học của môn sinh, ân phước nhiệm màu của Đức Sư Tổ từ đó mà chan rãi khắp cả nhân loại trên hoàn vũ ……

Trong tinh thần đó, các môn sinh phấn khởi tự hào về trí tuệ và công đức của thầy cô chưởng môn về sự đoàn kết của các thiền đường và đồng môn huynh đệ . “Tất cả phụng sự cho pháp Tổ, vì sự tiến hoá của thiên cơ và nhân loại!” không thể khác được . Buổi bình minh của Vi Diệu Pháp Hành Thiền, phải chăng khởi đầu từ đấy!

Từ đấy lòng con phơi phới quá
Hồn con rực rỡ ánh ngàn sao
Tổ yêu con lắm, con thương Tổ
Dìu bước con đi có cô thầy

NS.09_Thu chuc mung nam moi

NS.09_Thu chuc mung nam moi

THƯ CHÚC MỪNG NĂM MỚI
Giảng huấn Phạm Phú Hay
California 29 Tết 01-02-2011

Thưa Thầy, Cô chưởng môn tôn kính,
Thưa Quý Vị Giảng huấn – Quý Vị Trung Tâm Trưởng – Quý Huynh Đệ Đồng môn quý mến,

Một năm qua, thời gian đi, có vẻ chậm so với sự tiến bộ vượt bậc của Pháp môn. Bản thân mỗi môn sinh khi tu học, tất nhiên có được những thăng tiến nhất định, nhưng về bình diện Phụng sự Nhân loại và Pháp Tổ trên khắp Thế giới, với thần lực nhiệm mầu của Đức Sư Tổ, với công đức vô lượng cuả Thầy Cô chưởng môn, hôm nay, ngày cuối năm, toàn thể môn sinh chúng ta rất hãnh diện, phấn khởi được làm người con Tổ và học trò của Thầy Cô chưởng môn, nói lên những lời này.

Từ 21 Thiền Đường hồi đầu năm 2010, nay số lượng đó tăng lên gấp bội, và còn hơn thế nữa, vì một số quốc gia mời Thầy Cô chưởng môn như Pháp, Ấn Độ, và các nước Phi Châu… nhưng chương trình tồ chức các Thiền Đường những nơi đó còn hẹn lại. Thế kỷ 21 là buổi bình minh của Pháp Tổ, không thể nói khác được.

Đại lễ kỷ niệm 14 năm thành lập Pháp môn tại Hải Ngoại ngày 29-05-2010 vừa qua, ở California lúc ấy chỉ mới 32 Thiền Đường mà khí thế đã bừng bừng, tạo thành một vận hội mới cho tất cả chúng ta. Bằng tinh thần mạnh mẽ như vũ bão đã thổi phăng đi những ác trượt nặng nề, hào quang của Đức Sư Tổ sáng ngời trong tâm thức trí tuệ trong mỗi người chúng ta như nguồn lực dũng mãnh, giúp chúng ta vượt khó, vượt khổ, vượt thử thách, hy sinh cho lợi ích chung của Pháp Tổ.

- Chúng ta nhận thức sâu sắc, coi thường tính đen bạc vô minh và ái dục của con người và cuộc đời, nguyên nhân tác tạo nghiệp chướng, khảo đảo…

- Chúng ta, giác ngộ với bản lãnh, xem trọng sự đoàn kết, xây dựng và phát triển Pháp môn và Thiền Đường mà giá trị tu học tính bằng công đức cho nhu cầu diệt khổ, giải thoát.

- Chúng ta nhất định tỉnh táo trước mọi tình huống, ta đánh giá đúng mức cần thiết để nhận diện Phàm ngã, chân ngã, chân tâm của người con Tổ.

- Chúng ta thanh thản, an nhiên , bình yên trong cảnh giác cho luật Nhân quả và Tiến hóa được làm phận sự thiêng liêng cuả Thiên Cơ.

- Chúng ta, nhờ tu học không tôn kính tuyệt đối Đức Tin, hiểu biết Lẽ Đạo, Lẽ Đời, Chân Lý bất biến của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA qua ý chỉ của Thầy Cô chưởng môn trong các bài Pháp thoại, nhân dịp năm mới, chúng ta còn chút hãnh diện chúc mừng nhau như một dư âm của đầu xuân Năm 2011: “ Hãy tất cả cho Từ Bi và Phụng Sự Pháp Tổ.” vững bước tiến tu !

“Đời ta có Tổ còn xuân mãi”

Nguyện cầu Đức Sư Tổ DASIRA NARADA phò hộ chúng ta .

Trân trọng mừng tuổi Thầy, Cô chưởng môn và thân ái bắt tay các Bạn, nồng nàn thắm thiết .

NS.10_Duc tin và ly tri

NS.10_Duc tin và ly tri

ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ
Giảng huấn Lưu Nguyễn

“ Nếu tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta “

Câu nói trên đây là của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA. Tất cả các môn sinh của pháp môn VDPHT đều được nghe lời dạy này. Tuy nhiên sự hiểu biết của mỗi cá nhân môn sinh không thể đồng nhất. Mặc dù pháp của Tổ đã được thầy cô chưởng môn tận tâm tận lực dàn trải, phơi bày rất tường tận rỏ ràng đầy tính khoa học.

Sự hào nhoáng của nền văn minh khoa học vật chất đương đại như một cơn lốc khủng khiếp, có nhiều người tự cho mình là một tín đồ thuần thành, ngoan đạo, đang ung dung trên con đường tâm linh. Nhưng thực ra họ đang trong cơn lốc mà họ không hay biết. Bị xoáy tít, dập dùi trong mê muội rồi bầm dập đau đớn. Khi phần nào ý thức được sự đau khổ. họ mới lần mò tìm đường thoát thân.

Không ít người như chợt bừng tỉnh sau cơn mê. Họ tỏ ra phấn chấn, hăng say học học pháp Tổ. Họ tự cho rằng ngôi vị thánh nhân Bồ Tác trong tầm tay với. Nếu chỉ nhìn bề ngoài dỉ nhiên ta thấy họ cũng cùng ta tu học và hành trì pháp Tổ, họ cũng có phần nào công sức trong việc xây dựng thiền đường, phát triển pháp môn. Nhưng tiếc thay những chấp ta ngã mạn, chấp vào thành tích đã làm xụp đổ danh vọng thánh nhân bồ tát trong họ. Tâm vọng tưởng điên đảo đã biến họ thành những trở lực cản trở những người còn non kém trên con đường tu học.

Là một môn sinh chân chánh của pháp môn VDPHT ta phải có một đức tin kiên cố. Có như vậy ta mới có đủ nghị lực vượt qua mọi chướng ngại trên con đường trở về quê hương tinh thần. và cũng có nghĩa là ta phải đặt trọn niềm tin yêu vào nhị vị ân sư là thầy Nguyễn Đức Thuận và cô Nguyễn Ngọc Hải. Ta không thể đánh giá vấn đề bằng cái nhìn phiến diện, nông nổi. Ta không thể a dua, a tòng, ai sao mình vậy. Ta xác lập đức tin là từ trải nghiệm của chính bản thân mình. Từ cái nhìn thấu đáo tường tận bằng lý trí. Trong chúng ta mấy ai không hiểu câu “ Cái gì cũng phải có cái giá phải trả của nó “. Và, là người đi trên con đường đạo chắc chắn phải hiểu rằng : Thuận đạo nghịch đời. thuận đời nghịch đạo. Để xác định con đường đạo mình đang đi đúng hay sai, ta cần bình tâm xem xét kỹ lưỡng. Coi lại từ ngày theo thầy cô học và hành pháp Tổ ta đã mất những gì và có được những gì! Có phải ta đã mất những thứ trước kia đã làm cho thân ta bịnh hoạn, tinh thần ta bất an, cuộc sống gia đình đầy muộn phiền? Thay vào đó ta có thân thể khỏe mạnh, tinh thần an định, sáng suốt, những phiền toái trong cuộc sống lui dần, gia đình ngày càng ấm êm, hạnh phúc. Nếu bảo rằng trên đây là cái giá phải trả của người tu học- Đánh đổi cuộc sống quá khứ muộn phiền để có được tương lai tươi sáng- thì còn gì mà phải đắn đo nuối tiếc!

Trong cuộc hành trình trở về, không thể không có khó khăn trở ngại. Mỗi lần nghịch cảnh đến với ta, ta cần phải có một khoảng thời gian nhất định để quay vào trong mà suy ngẫm kiểm điểm. Nếu hoàn cảnh, đời sống mọi mặt đang phát triển theo chiều hướng tốt đẹp , những người xung quanh ta càng ngày càng thương quý gần gũi ta, thân và tâm ta mỗi lúc thêm thanh thoát nhẹ nhàng. Như vậy thì ta biết chắc rằng ta đang sống đúng, ta đúng! Nếu nghịch cảnh đến, ta hiểu chắc chắn rằng đó chỉ là bài học mới, một bài thi, một sự thử thách để giúp ta phát triển tâm trí. Do đó tâm thức của ta sẽ được nâng cao ở bình diện mới. Như vậy tức là ta đang xuôi thuận theo quy trình của cơ tiến hóa. Còn nếu như hoàn cảnh sống của ta càng ngày càng tệ hại hơn. Mọi người xung quanh ta lần xa lánh chống đối. Thân tâm mỗi ngày thêm tiều tụy, phiền toái. Thì ta nên biết ta đang sống sai, tu sai rồi đó! Nếu bị ở trong hoàn cảnh này ta khoan hận người, than trời trách đất, mà hãy nghiêm túc tự kiểm chính mình. Dĩ nhiên để có được thành quả tốt đẹp trên con đường tu học, hành giả phải trở lại bắt đầu từ khởi điểm.

Những lời thị phi khen chê của người lắm lúc đã làm xáo trộn nội tâm, ảnh hưởng không ít tới tính tự chủ của mình. Lời khen là tưởng thưởng, khích lệ. Nhưng đôi khi ta tự thẹn với lòng bởi ta biết rằng ta thực sự chưa xứng đáng để được tưởng thưởng, khích lệ. Và đôi khi vì lịch sự, xả giao mà mọi người nói lên những lời khách sáo. Những lời phê bình thì lại khác! Cho dù đúng hay sai cũng được nói ra bởi từ cái đánh giá, nhận định của người nói là sự biểu lộ quan điểm một cách thẳng thắn trung thực qua ngôn ngữ. Là cơ hội giúp cho mình quán chiếu xem xét lại chính mình. Nếu ai dụng tâm an tịnh, cầu tiến để đón nhận những lời phê phán, chê bai. Chắc chắn người đó sẽ thành công trong việc loại trừ những khuyết điểm, lầm lỗi, chỉnh sữa những sai trái. Nếu những lời phê phán nhận xét sai, thì vẩn có giá trị tuyệt đối như thường! Bởi cũng như ta uống một liều thuốc đắng để ngừa bịnh. Tóm lại những lời phê bình nhận xét của mọi người giúp cho ta có cơ hội tiến tới sự hoàn thiện chính bản thân mình.

“ Người ngoài tạt nước vào ta, có thể làm ướt mặt ta. Nhưng đừng để nước thắm vào tâm ta “

Câu nói trên đây là của cô Ngọc Hải dạy môn sinh. Môn sinh nào đem áp dụng vào cuộc sống hằng ngày sẽ có tâm bình thản an nhiên, cuộc sống sẽ được an bình.

Con đường SONG TU của Đức Sư Tổ Dasira Narada đã cứu giúp bao nhiêu người thoát khỏi cảnh khổ ở chốn trần gian. Đã có biết bao nhiêu người loại trừ được những căn bịnh hiểm nghèo mà y dược đã bó tay. Sau một thời gian tu học và hành trì pháp Tổ, từ một thân thể bịnh hoạn trở nên tráng kiện. Một tinh thần bạc nhược yếu đuối trở nên sáng suốt yêu đời. Từ một tâm hồn thấp hèn vị kỷ trở nên thanh cao hướng thượng. Như ta đã biết trong lịch sử nhân loại, chưa có pháp tu nào chỉ trong một thời gian rất ngắn có thể giúp cho con người thay đổi từ thể chất đến nội tâm. Cho đến nay pháp Tổ vẩn là pháp tối thượng thừa. Thầy cô chưởng môn đã rút tỉa từ kinh nghiệm và kết quả tu chứng của bản thân để đem ra chỉ dạy hướng dẩn cho môn sinh của pháp môn VDPHT. Tạo ra một sinh lực mới cho cộng đồng nhân loại. Thực thi tôn chỉ của pháp môn : Cứu giúp cho nhân loại thoát ra khỏi cảnh khổ trầm luân để đạt được một đời sống vĩnh hằng. Vâng theo lời dạy của Đức Sư Tổ Dasira Narada : Đưa nhân loại hoàn hư về một nẻo.

Ở đời không ít người học chánh pháp mà làm theo đường tà. Bởi vậy mới có câu “ Tu trúng thì thành Phật, tu trật thì thành Ma “. Cũng vì vậy ở thế gian này có thánh tăng, đồng thời cũng có phàm tăng và ác tăng. Một người đi trên đường đạo có được minh sư chỉ dạy dẩn dắt theo chánh đạo, và có đức tin kiên cố mà thiếu sự sáng suốt của lý trí vẫn dễ dàng sa vào con đường tà. Để đạt được thành quả tốt đẹp nhứt trên con đường tu học và hành trì pháp Tổ, cá nhân môn sinh phải có tâm cầu tiến, bằng lý trí sáng suốt, tâm thanh cao hướng thượng và lòng dũng cảm phi thường. Nghiêm túc ứng dụng lời thầy, ý Tổ vào cuộc sống hằng ngày không mảy may sai sót. Làm được như vậy lo gì cuộc sống tâm linh chẳng thăng hoa kết trái.

NS.11_Con mat

NS.11_Con mat

CON MẮT
Giảng huấn Lưu Nguyễn

Lời Phật dạy: Nếu thấy ta bằng sắc tướng, nếu nghe ta bằng âm thanh, người ấy đi đường tà, không thấy được như lai.

Lời Chúa dạy: Phúc cho những ai không thấy mà tin.

Lời Tổ dạy: Nếu tin ta mà không hiểu ta là phỉ bang ta.

Nếu ta chỉ xét đoán câu nói của các Ngài trên phương diện ngôn từ, thì ta chỉ thấy sự khác biệt. Bởi vì khi các Ngài nói ở vào thời điểm khác nhau, nơi chốn cũng như trình độ dân trí khác nhau. Nhưng xét về ý thì như không khác.

Vốn dĩ con người ở thế gian thường có tính kỳ thị, từ đó dẫn đến sự chia rẽ, bất đồng. Chỉ trên phương diện tôn giáo mà thôi, đã có biết bao nhiêu điều khiến người ta phải đau lòng. Đấng tạo hóa chỉ có một. Chân lý chỉ có một. Các đấng cứu thế đến với thế gian để cứu nhân loại, các Ngài buộc phải dùng sắc tướng và ngôn ngữ của thế nhân để làm phương tiện, ngỏ hầu nhờ vào ánh sáng chân lý mà nhân loại có thể diệt khổ và giải thoát, tiến dần lên những bậc than tiến hóa. Tùy theo địa phương và tiện nghi đương thời, các Ngài ứng dụng để truyền giảng chân lý, cứu độ nhân loại. Đối với các Ngài, thế nhân là một đại gia đình nhân loại. Các Ngài đến thế gian không phải để thành lập tôn giáo. Bởi các Ngài biết rằng bản tính của con người ở thế gian là kỳ thị, đố kỵ. Nếu các Ngài thành lập tôn giáo thì pháp cứu độ của các Ngài sẽ không được những người ngoài tôn giáo chấp nhận. Như vậy, các Ngài chỉ có thể cứu độ một số ít người trong phạm vi tôn giáo đó mà thôi. Các Ngài làm việc với Tâm Bình Đẳng, Lòng Từ Bi Vô Lượng, Trí Tuệ Vô Biên, nhưng chẳng có bao nhiêu người hiểu thấu và thực hiện một cách rốt ráo lời dạy của các Ngài.

Để thực hiện lời dạy của Tổ: “ Tâm mưu cầu cho hạnh phúc đại đồng. Tâm xây dựng cho mọi người chung hưởng” Dưới sự chỉ đạo hướng dẫn của nhị vị chưởng môn - Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải - từng cá nhân môn sinh ngày đêm tu tập thiền định và hành trì pháp tổ để tự cứu mình và giúp đời. Chỉ vỏn vẹn 14 năm (1996-2010) Thầy Cô tạo dựng đạo nghiệp ở Bắc Mỹ, 34 thiền đường đã được thành lập trên toàn thế giới. Thành quả tu tập, hành pháp Tổ cứu độ nhân loại không ngưng lại ở cấp độ địa phương, mà rộng khắp, mang tầm vóc quốc tế. Hiện nay châu Mỹ, châu Âu, châu Úc và châu Á đã có thiền đường của pháp môn. Riêng châu Phi, một số môn sinh gốc châu Phi đã xin Thầy Cô đem pháp Tổ về truyền dạy để cứu độ dân chúng tại quê hương của họ. Thầy Cô chưởng môn đã chấp thuận lời thỉnh thị. Trong tương lai rất gần, những hạt giống Vi Diệu Pháp Hành Thiền đầu tiên sẽ được gieo cấy trên lục địa châu Phi. Các thiền đường sẽ được thành lập, dân chúng châu Phi sẽ được hưởng ơn cứu độ. Với thành quả bước đầu, đủ chứng minh rằng pháp cứu độ của Tổ phù hợp với nhu cầu tiến hóa tâm linh của con người đang sống trong thời đại văn minh, khoa học vật chất tiến bộ đến cực điểm. Tuy nhiên, thành quả ấy còn quá nhỏ nếu đem so với những đớn đau, phiền não của nhân loại. Sỉ số môn sinh còn quá ít so với dân số trên toàn cầu. Là một môn sinh chân chính của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền, ta không thể mãn nguyện với những gì ta đã làm và đã đạt được. Ta phải luôn tỉnh táo để nhận biết rằng: Đó chỉ là một sự khởi điểm thuận lợi mà thôi.

Nay có dịp suy gẫm lại quá trình tu học và hành trì pháp Tổ của chính mình, tôi nhận ra một điều rất lý thú và vô cùng giá trị đối với bản thân tôi. Đó là những ngày đầu mới gia nhập vào pháp môn, tôi đã dùng con mắt phàm phu để đánh giá sự việc. Với con mắt ấy tôi đã thấy được sự thay đổi về sức khoẻ, sắc diện và tâm tính của những người bạn của tôi. Họ là những người có căn bệnh hiểm nghèo, thân hình tiều tụy, tính tình cộc cằn thô lỗ. Chỉ sau một thời gian ngắn họ theo học pháp Tổ, đã có được sự thay đổi và kết quả tốt đẹp. Đó là động lực giúp cho tôi có được sự gắn bó với pháp môn.

Sau những tháng năm cùng các bạn đồng môn tu học, hành trì pháp Tổ, với sự giảng dạy, dẫn dắt tận tình của Thầy Cô. Qua những bài pháp và sự vi diệu vô song của pháp Tổ đã giúp cho tôi có được con mắt đức tin. Với con mắt đức tin, tôi chỉ nhìn thấy mặt phải của sự việc, của người đối diện. Lòng tin yêu tràn đầy trong tim tôi. Tâm tôi không còn chỗ cho tỵ hiềm, đố kỵ. Tôi không để tâm hoặc lưu ý đến những thiếu sót, vụng về của người khác, bởi tôi hoàn toàn tin tưởng theo quy trình tiến hóa, họ sẽ từ từ nên tốt, nên lành.

Sự tu học của một con người không thể tính bằng tháng hay năm. Mà phải được tính bằng cả chặng đường dài của một đời người. Sự đến rồi đi, hợp rồi tan, ta thường nói và cho đó là duyên. Phải chăng đó là cách nói để làm giảm thiểu áp lực tâm lý của những người trong cuộc khi có một sự kiện xảy ra làm biến đổi mọi sự. Hoặc mang một ý nghĩa nhẹ nhàng hơn để tự trấn an chính mình. Sau những tháng năm dài tu học và hành trì pháp Tổ, tôi không chắc là huệ nhãn chúng ta đã được khai mở. Nhưng đạo nhãn chắc chắn phải có. Chúng ta không thể phủ nhận sự sắp xếp, an bài một cách tinh vi và hợp lý của bàn tay vô hình đối với sự sống của vạn vật muôn loài. Nói cách khác: với con mắt đạo nhãn, ta nhìn thấy được sự vi diệu, nhiệm mầu, và sự hiện hữu của các Đấng Thiêng Liêng. Lội ngược dòng đời để trở về quê hương tinh thần quả thật khó khăn khôn lường. Bởi xung quanh ta còn biết bao thứ trì kéo, cản trở bước chân chúng ta. Trong mỗi chúng ta ai cũng biết tu là tốt. Có tu thì mới đạt được đẳng cấp, quả vị tâm linh. Mỗi chúng ta đều nhìn nhận rằng những khó khăn trở ngại trên con đường tu đều là thử thách, khảo đảo. Tuy biết và nói lên được những điều đó, nhưng khi gặp phải khó khăn, trở ngại, người ta lại thường đổ thừa là tại, là bị, để che đậy sự hèn kém, đồng thời chối bỏ trách nhiệm. Tổ dạy “ Biết sai trái sửa sai không tái phạm. Thất bại rồi giác ngộ ắt thành công ”. Lời dạy của Tổ là muốn chúng sinh dùng đạo nhãn để nhìn nhận cái chân giả của sự việc. Khi nghịch cảnh đến với ta, nó có thể làm cho ta đau điếng, tê tái. Nhưng ta không để cho nó làm thui chột tâm đạo của ta. Ngược lại ta biến nó thành phân bón cho cội Bồ Đề thêm lớn thêm tươi. Nếu nói đến duyên thì có duyên lành và duyên dữ. Khi chuyện lành đến, ta lợi dụng thời cơ để tạo dựng sự nghiệp. Khi duyên dữ đến, ta cần phải dũng mãnh để chế ngự nó. Ta không thể buông tay đầu hàng. Rồi sau đó ta lại đổ thừa rằng duyên đã tận. Nếu ta không tỉnh táo để tự chủ, mà để cho hoàn cảnh chi phối, nghịch cảnh trì kéo thì đạo nghiệp sẽ sụp đổ, mất con đường tu. Đó chính là lúc tự ta loại mình ra khỏi quỹ đạo của quy trình tiến hóa của nhân loại. Và đó cũng chính là định luật bất biến của cơ tiến hóa. Là chân lý.

Chúng ta đang sống ở vào thời kỳ cuối của thời mạt pháp. Gặp được pháp cứu độ của Đức Sư Tổ Dasira Narada, hãy nắm bắt lấy, đừng làm mất cơ hội tiến hóa của chính mình. Huệ nhãn chắc chắn được khai mở khi ta tận tường thấu đáo nguyên lý của sự sống. Mọi sự như được dàn trải, phơi bày trước con mắt trí tuệ.

NS.12_Seattle niem tin va hy vong

NS.12_Seattle niem tin va hy vong

Seattle Niềm Tin và Hy Vọng
Giảng huấn Lưu Nguyền

Đây Seattle có rừng xanh muôn thủa
Có cổ thụ già cành lá xum xuê
Che chở mầm non tàn lộng bung xoè
Mà ngạo nghễ giữa cuồng phong bão tố
Đây Seattle có bình minh rực rỡ
Xóa màn đêm soi tỏ mọi con đường.
Có nắng xuân tỏa chiếu khắp bốn phương.
Cho cuộc sống lụi tàn bừng sống dậy.
Đây Seattle mới Ngày nào xa lạ.
Mà hôm nay sao nghe quá thân thương.
Có nhiều đêm thao thức suốt canh trường.
Cho tràn bờ biển yêu thương dâng sóng.
Đây Seattle niềm tin và hy vọng.
Của môn sinh Vi Diệu Pháp Hành Thiền.
Đây Seattle là nhịp đập con tim
Của tình yêu thiêng liêng và sự sống.
Đây Seattle giữa đất trời lồng lộng.
Trong đêm thâu sao bắc đẩu dẫn đường.
Đây Seattle nơi khơi dậy tình thương.
Nơi bắt nhịp bài trường ca đoàn kết.
Đây Seattle, Đây móng cầu tâm thức.
Đang ngày đêm bắt nhịp nối liền bờ.
Đây Seattle nơi khơi dậy nguồn thơ.
Để ca ngợi mối tình chân bất diệt.
Seattle ơi! đây nỗi niềm tha thiết.
Nghĩa tình này muôn kiếp chẳng hề phai.

NS.13_Chuc mung Sinh Nhut thu 165

NS.13_Chuc mung Sinh Nhut thu 165

CHÚC MỪNG SINH NHẬT THỨ 165
Đức Sư Tổ DASIRA NARADA
Giảng huấn Trần Đình Quang

Kính thưa Đức Sư Tổ Dasira Narada, kính thưa Thầy Cô, kính thưa các vị giảng-huấn-viên, các vị quan khách đại diện chính quyền tiểu bang California, các vị truyền thông, báo chí, và các anh chị em môn sinh VDPHT. Thay lời các môn sinh của TĐ Mississauga, tôi xin bày tỏ sự tôn kính và lòng biết ơn chân thành nhất lên Đức Sư Tổ Dasira Narada, Đệ Nhị Sư Tổ Narada Mahathera và hai vị Minh Sư kính thương của chúng ta, Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải.

Hôm nay 24 tháng 10 năm 2011, toàn thể môn sinh Vi Diệu Pháp Hành Thiền trên khắp thế giới hân hoan mừng ngày đại lễ sinh nhật thứ 165 của Đức Sư Tổ Dasira Narada, Vị Tổ Sư kính yêu đã khai sáng Vi Diệu Pháp Hành Thiền, một minh triết khoa học tâm linh, hướng dẫn cho con người tu học để thanh lọc thân tâm và phát triển trí tuệ. Từ đó người môn sinh sáng suốt nhận ra bản chất thiêng liêng cao quý của mình để sống một cuộc đời cho trọn vẹn và có ý nghĩa. Huấn từ của Đức Sư Tổ Dasira Narada hướng dẫn cho các môn sinh hiểu biết sâu sắc về nguồn lực thiêng liêng trong cuộc sống, đó là tình thương yêu chân thật giữa người với người và muôn loài muôn vật. Nương theo nguồn lực nhiệm mầu đó, các môn sinh phát tâm hành thiện, xây dựng thiền đường, phục vụ thiện nguyện, mở lớp học thiền để truyền bá Pháp Tổ cho nhân loại. Đấy là những hạnh nguyện và thành quả của sự tu học mà ngày hôm nay chúng con thành kính chúc mừng Sinh Nhật Tổ.

Nhân ngày lễ này, mọi môn sinh ghi tâm cảm kích Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải, hai vị chưởng môn đã sáng lập ra Pháp môn Vi diệu Pháp Hành Thiền. Thầy Cô đã cống hiến trọn cuộc đời cho việc thành lập và phát triển Pháp môn, truyền dạy phương pháp thiền định và tu học siêu việt của Đức Sư Tổ Dasira Narada, đến khắp mọi nơi trên thế giới. Thầy Cô hướng dẫn và giải thích tường tận minh triết thiêng liêng của Đức Sư Tổ. Huấn từ của Thầy Cô đã xuyên qua tâm thức, đi vào tâm khảm và khơi dậy chân tâm của những môn sinh thành tâm tu học. Nhờ đó, người môn sinh sẽ hiểu rỏ ý nghĩa chân thật của đời sống tâm linh, nhận thức ra rằng mình thật sự là ai, để hiểu rằng tất cả nhân sinh đều là anh chị em, là con chung của Đấng Sáng Tạo. Tất cả mọi người đều là những du học sinh đang đi học đạo ở trường đời để tiến hoá. Một khi chúng ta nhận ra được mục đích và ý nghĩa của đời sống trần gian, thì dù trong hoàn cảnh nào: vui buồn khó khăn hay vinh nhục, mình sẽ không còn than trời trách đất, mình sẽ không còn tranh dành, ganh tị, gây khổ lụy cho nhau. Ngược lại, mình luôn có nhiệm vụ thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau. Trên con đường tiến hoá trở về nguồn cội, có lúc mình ý thức rằng: chia sẽ với nhau tình thương yêu đại đồng, là một nhiệm vụ mà các Đấng Thiêng Liêng đã gieo trong từng trái tim của mọi người. Từ đó mình sẽ xã thân hành thiện giúp đời để hoàn tất sứ mệnh cao quý này. Nếu toàn nhận loại thức tỉnh, để lắng nghe tiếng gọi của tình thương yêu đại đồng đang réo gọi trong tâm, thì thế giới sẽ không còn hận thù, chiến tranh tan tóc, thay vào đó là một nền hòa bình an lạc. Khi chúng ta hoàn thành tất cả các bài học và nhiệm vụ ở thế gian, đó là ngày chúng ta sẽ tay nối tay, tâm liền tâm, cùng nhau trở về Nhà. Trong bài thơ Chân Lý, Tổ dạy: “Yêu nhân loại nào khác thể thân ta, Đưa nhân loại hoàn hư về một nẻo”. Dưới sự giảng dạy và dìu dắt của Thầy và Cô, nhiều môn sinh đã ý thức về ý nghĩa chân thật này, họ tự ý hy sinh tư lợi của đời sống vật chất, chăm lo tu học, hành thiện giúp đời, để được thăng tiến trên con đường tiến hoá tâm linh đầy ý nghĩa.

Cũng nhân ngày lễ này xin chúc mừng công đức và hạnh nguyện của các vị giảng-huấn-viên. Các anh chị đã và đang hy sinh tất cả những ràng buộc gia đình, công ăn, việc làm, phụ giúp Thầy Cô trong công tác truyền bá Pháp Tổ, cứu độ cho nhân sinh thoát khỏi mọi sự đau khổ. Các anh chị là những tấm gương trong sáng, mà Thầy Cô đang đào tạo để thực hành sứ mạng cao quý của người môn sinh, gương mẫu và chân chính.

Thưa các anh chị em môn sinh VDPHT, với đà phát triển của Pháp môn, số môn sinh càng ngày càng đông, số thiền đường càng ngày càng gia tăng trên toàn thế giới. Vì lẻ đó công việc tổ chức các lớp học cao cấp sẽ trở nên khó khăn và phức tạp hơn. Trong thời gian vừa qua, thiền đường Orange County, với sự hổ trợ của các thiền đường vùng California, đã tiên phong nhận lãnh trách nhiệm tổ chức lớp học Cấp-5 với hơn 150 môn sinh từ 19 TĐ khắp nơi về thụ huấn Pháp Tổ. Lớp học đã thành công tốt đẹp. Theo tinh thần đó, những kinh nghiệm về việc tổ chức lớp Cấp-5 vừa qua, tạo điều kiện để các anh chị lại một lần nữa, ra công, ra sức, tổ chức lớp học Cấp-4 trong những ngày qua, với 243 môn sinh thụ huấn, và gần 100 môn sinh từ các TĐ đến trợ duyên. Đặc quan nhất, là ngày Lễ Sinh Nhật Tổ hôm nay với hơn 500 người, bao gồm môn sinh từ các TĐ trên khắp thế giới, các quan khách đại diện chính quyền, truyền thông, báo chí, qui tụ về đây chúc mừng ngày đại lễ. Đây là một công việc qui mô nhiều trọng trách, chắc không khỏi có khó khăn về nhiều mặt. Xin phụ lời cùng tất cả mọi người, chúng tôi chân thành chúc mừng công hạnh của các anh chị, đã cố gắng hết sức mình để làm vẻ vang Pháp môn, vâng lời Thầy, đẹp ý Tổ, vui lòng mọi người... Các anh chị thân mến, xin gởi đến các anh chị một ngày happy sinh nhật Tổ thật là hài hòa và cảm kích.

Ngày hôm nay, những nét hân hoan rạng rỡ trên từng khuôn mặt của các môn sinh VDPHT, những tấm lòng trung kiên và sự dũng cảm vượt qua những khó khăn thử thách, để duy trì và phát triển thiền đường ngày một lớn mạnh, chính là sự tạ ơn chân thành và ý nghĩa nhất, mà mọi người môn sinh chúng ta có thể đền đáp lại sự hy sinh, ân đức và mong đợi của Thầy Cô.

Nguyện cầu Đức Sư Tổ Dasira Narada gia hộ cho chúng con luôn được sống trong vòng tay thương yêu của Ngài.

NS.14_Le mung Sinh Nhut thu 165

NS.14_Le mung Sinh Nhut thu 165

LỄ MỪNG SINH NHẬT THỨ 165
ĐỨC SƯ TỔ DASIRA NARADA
Giảng huấn Lisa Diệu

Thật là vui và hạnh phúc khi được gặp lại các anh chị em trong mái ấm gia đình VDPHT của chúng ta. Tôi xin gởi đến tất cả mọi người lời chào thân thương nhất.

Chúng ta được quay quần ở đây nhờ sợi dây tâm linh đang thắt duyên lành để chúng ta gắn bó với nhau thành một gia đình. Hôm nay chúng ta về đây để thành kính tưởng niệm Đức Sư Tổ Dasira Narada nhân ngày sinh nhật thứ 165 của Ngài. Và chúng ta về đây cũng là để chúc mừng va tỏ lòng tri ơn hai vị ân sư kính thương của chúng ta, Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải, hai vị chưởng môn VDPHT và cũng là người đại diện duy nhất của Ngài, đang truyền giảng chánh pháp trong 15 năm qua, kể từ ngày Thầy và Cô đem Pháp Tổ đến vùng Bắc Mỹ.

Chúng tôi hân hoan chào đón và cám ơn quý vị quan khách có mặt hôm nay để cùng tham dự lễ kỷ niệm sinh nhật với chúng tôi.

Với tấm lòng chân thành, chúng tôi xin cám ơn các môn sinh TĐ Orange County. Các bạn đang tiếp nối truyền thống và hạnh nguyện của các môn sinh TĐ Seattle. Các bạn đã ra công, ra sức, làm việc hăng say, tổ chức lớp học Cấp-5 trong mùa Xuân vừa qua. Mấy ngày hôm nay các bạn lại bận rộn tổ chức lớp học Cấp-4. Chúng tôi xin chúc mừng công đức của các bạn. Chúng tôi thật là cảm kích tấm lòng tốt và sự ưu đãi, mà các bạn đã dành cho tất cả mọi người, trong những ngày qua và Đại Lễ Sinh Nhật Tổ trong ngày hôm nay.

Cũng như hầu hết các môn sinh, tôi đã đọc đi, đọc lại, tiểu sử Đức Sư Tổ nhiều lần. Trong giây phút suy tư, có lần tôi thầm tính nhẩm rằng, Đức Sư Tổ sanh ra tại thành phố Colombo nước Tích Lan vào năm 1846. Ngài đậu bằng tiến sĩ triết học Đông phương năm Ngài mới 25 tuổi. Noi theo chân phụ thân, là một quan chức ngoại giao, Đức Sư Tổ làm việc cho chính phủ Tích Lan cho đến năm 1893. Là con trai duy nhất của một gia đình quyền quý, thế mà đột nhiên Ngài từ bỏ sự thừa hưởng của cải giàu sang. Ngài từ bỏ địa vị danh vọng quyền thế, một tương lai huy hoàng mà mọi người đều ham muốn. Ngài đã bỏ lại sau lưng tất cả để tiến về dãy Hy Mã Lạp Sơn phía trước, lúc đó Ngài được 47 tuổi. Sau 18 năm tu tập, với một tấm lòng nhiệt thành và một ý chí kiên trì, tìm đường giải thoát. Ngài đã chứng đắc Trí Đạt Thông, hòa nhập vào Tâm Thức Vũ Trụ, thấu hiểu chân lý huyền vi. Từ đó Ngài đã tư duy ra một minh triết sâu rộng, và khai sáng phương pháp khoa học tâm linh Vi Diệu Pháp Hành Thiền. Sau khi đắc đạo, Đức Sư Tổ Dasira Narada rời dãy Hy Mã Lạp Sơn, du hoá khắp nơi và bắt đầu giảng Pháp. Lúc đó Ngài đã 65 tuổi, ở tuổi này hầu hết mọi người đã nghỉ hưu! Còn Ngài thì dốc lòng đi truyền dạy Pháp trong suốt 5 năm, đồng thời tìm người thừa kế. Cho đến năm 1916, Ngài đã tìm được một truyền nhân, lúc đó Ngài đã 70 tuổi, Ngài đặt hết niềm tin, huấn luyện và truyền lại tất cả tri thức cho người đệ tử trọn 8 năm nữa. Đức Sư Tổ lại ra đi lần cuối cùng vào năm 1924, lúc đó Ngài 78 tuổi. Lần này không ai biết Ngài đi đâu, và cũng từ đó không ai còn thấy Ngài nữa. Hôm nay, chúng ta ôn lại tiểu sử của Đức Sư Tổ Dasira Narada, để tưởng nhớ và tri ơn sự hy sinh, và cống hiến vĩ đại của Ngài cho nhân loại. Trí tuệ và công đức của Ngài đã khơi lên những đức tính cao thượng trong ta. Vi Diệu Pháp của Ngài đã thật sự chuyễn biến tâm thức của chúng ta một cách vi diệu.

Hai vị Thầy kính yêu của chúng ta, Thầy Thuận và Cô Hải là hai người duy nhất thọ nhận tất cả Pháp Tổ từ 5 người Việt Nam, 4 nam và 1 nữ, trong khoảng thời gian từ 1972-1974, Đệ Nhị Sư Tổ đã mật truyền VDPHT cho họ gìn giữ. Khi thời cơ đến, Thầy và Cô đã đem Pháp Tổ đến Bắc Mỷ vào năm 1996.Thầy Cô thành lập Pháp Môn VDPHT và mở Thiền Đường Seattle, cũng từ đó TĐ Seattlle trở thành Căn Nhà Tâm Linh của tất cả chúng ta. Trong những năm tháng qua, Thầy Cô đi đến nhiều nơi trên thế giới, mở lớp dạy thiền định, giao hưởng tâm thức, hướng dẫn nguyên lý truyền năng lượng. Ai ai cũng học được, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, màu da, miễn là họ phải trên 18 tuổi. Thầy Cô đã đem tất cả tình thương và sự chứng nghiệm chân thật của mình, gói ghém vào trong những lời giảng dạy thực tế và đương niệm cho môn sinh. Hiện nay có hơn 40 thiền đường khắp mọi nơi trên thế giới. Thầy Cô cũng đã đào tạo nhiều Giảng Huấn Viên cao cấp, có đạo hạnh tốt, mà chúng tôi rất tin tưởng, ngưỡng mộ và cố gắng noi theo. Mới đây Thầy Cô lại ấn chứng thêm 15 Giảng Huấn Viên để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng phát triển của pháp môn. Bên cạnh đó, Thầy Cô luôn theo sát và khuyến khích chương trình phiên dịch Pháp Tổ và các bài giảng ra thành nhiều ngôn ngữ. Hiện nay chúng ta đã có Tài Liệu Tu Học cho các thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Trung Hoa, Cam Bốt, và Tây Ban Nha. Hồi tháng 9 vừa qua, Thầy Cô đã cho phép và ủng hộ TĐ Ottawa – Canada tổ chức lớp học Cấp I&II. Đặc biệt, đây là lớp học VDPHT đầu tiên được giảng dạy bằng Anh Ngữ. Lớp học rất thành công, ghi dấu thêm một nấc thang có tính chất lịch sử. Thầy Cô luôn luôn giảng dạy đạo lý và hướng dẫn cho các thiền đường, cho dù mới thành lập còn non nớt, hay đã trưởng thành đang phát triển mạnh. Thầy Cô luôn giáo huấn và dìu dắt chúng ta qua các chặn đường khó khăn đầy nghịch cảnh. Những lúc đó, lời giảng dạy của Thầy Cô lại càng thực tế và thâm thúy hơn. Tất cả mọi hoàn cảnh thế gian, mà chúng ta đang gặp phải, ở trong thiền đường hay ngoài xã hội, đều được giải đáp rốt ráo trong pháp Tổ. Thầy Cô tận tụy dạy cho chúng ta những bài học của lòng vị tha và tình thương nhân loại, để chúng ta dần dần thoát ra khỏi cái bản ngả thấp hèn, chấp mình, chấp ta, chấp người, chấp phong tục, chánh trị, và dân tộc... Đấy là những hàng rào nghiệp chướng ngăn xẻ chính bản thân ta, và giữa ta với đời.

Trong 15 năm qua, rất nhiều chúng ta ở đây đều có hân hạnh đến nhà Thầy Cô ở Seattle và viếng thăm nhà Thầy Cô ở Việt Nam. Một số chúng ta cũng đã tháp tùng Thầy Cô đi hành pháp ở nhiều thành phố. Trong những dịp này chúng ta được sinh hoạt gần gũi với Thầy Cô, được nghe Thầy Cô giảng Pháp, được ngồi thiền chung với Thầy Cô, và đôi khi chúng ta cũng được trị bịnh. Chúng ta ngồi ăn chung bàn với Thầy Cô, cười đùa vui nhộn. Cũng có khi chúng ta tâm sự cho Thầy Cô nghe những chuyện vui buồn, sâu thẳm, của chính mình. Bạn có biết rằng chúng ta rất may mắn lắm không? Thật vậy, chúng ta rất là diễm phúc mới có được sự quan hệ thân tình gần gũi với Thầy Cô. Mặc dầu một số chúng ta không đồng ngôn ngữ hay ở xa Thầy và Cô, nhưng không có gì ngăn cách được, bởi vì khả năng thị hiện của Thầy Cô, những vị Chân Sư, đang liên tục chuyển hoá tâm thức của chúng ta.

Pháp môn của chúng ta phát triển ngày càng rộng lớn, bởi vậy các môn sinh mới sẽ không có nhiều cơ hội được sinh hoạt chung với Thầy Cô. Sau này nhìn lại, chúng ta sẽ hiểu rằng mình thật là may mắn được Thầy Cô trực tiếp giảng dạy và trao tặng những món quà tâm linh vô giá.

Trong những ngày tới đây, nhiệm vụ của chúng ta, là gieo hạt giống tình thương của Tổ cho các môn sinh mới, cũng như Thầy Cô đã gieo hạt giống thiêng liêng này vào tâm ta. Nếu chúng ta giữ cho sợi dây tình thương này tiếp tục nối dài ra toàn thể nhân loại, và Pháp Tổ được lưu truyền cho các thế hệ tương lai theo đúng chánh pháp, thì đó là một trong những cách tốt nhất để chúng ta cám ơn Tổ và Thầy Cô.

Với tấm lòng kính thương, trung kiên, xin tạ ân Thầy Cô đã giảng dạy tâm linh với từ bi, bác ái, và trí tuệ trong suốt 15 năm qua. Đệ tử nguyện theo dấu chân Thầy Cô, đó là niềm vui và hạnh phúc nhất cho đệ tử.

Happy birthday cho tất cả những người con Tổ.

NS.15_10 Nam vun xoi tam đien no hoa

NS.15_10 Nam vun xoi tam đien no hoa

10 NĂM VUN XỚI TÂM ĐIỀN NỞ HOA
Giảng huấn Trần Hoàng Tùng

Bài thơ “Mười Năm Tu Học” của Cô Ngọc Hải thương tặng Thiền Đường Calgary nói riêng và tất cả môn sinh của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền nói chung, vẫn thấm sâu trong tâm tôi cho dù buổi lễ kỹ niệm10 năm, ngày thành lập thiền đường Calgary đã trôi qua vào tháng 8 năm 2008. Là một môn sinh tại thành phố này, tôi cũng phần nào hãnh diện cho sự phát triển tốt đẹp của thiền đường và pháp môn trong những năm gần đây. Cùng chí hướng, chúng ta đã gặt hái rất nhiều thành quả tốt đẹp, kết hợp được nhiều tinh hoa và thành lập nhiều thiền đường trên thế giới.

Xin thuật lại một điều bất thường đã xảy ra trong tôi. Sau buổi liên hoan ấy không lâu, tự nhiên tôi chợt cảm thấy hụt hẫng, như bị trúng trược hay bị một sợi giây vô hình nào đó trì kéo. Dù cố gắng che đậy nhưng tôi vẫn không dấu được sự bất an. Nhiều anh chị đã quan tâm thăm hỏi và tỏ lòng giúp đỡ, nhưng tôi đã ngại ngùng từ chối, vì không rõ nguyên nhân từ đâu. Tôi tự vấn và xoay quanh với những thắc mắc “Mình đang làm gì, và mình sẽ đi về đâu .v.v.”

Cuối cùng, tôi đã tự giải thoát bằng cách thật sự lắng nghe lòng mình trong lúc thiền định, ôn lại thật kỹ bài thơ Chân Lý của Đức Sư Tổ Dasira Narada, lời dạy của Đệ Nhị Sư Tổ Narada Mahathera. Đây cũng là dịp tốt để tôi nghe lại tất cả các bài pháp của Thầy & Cô, những bài pháp mà trước kia tôi nghe qua nhưng đã không thật sự đưa vào tâm mình. Qua đó, tôi đã hướng vào mảnh ruộng tâm của mình, cố tìm câu trả lời, tìm sự huyền bí của tâm hồn mình, tự đào xới lên những sai trái lỗi lầm và vun bồi bằng những bài pháp cao siêu ấy. Có lúc tôi cảm thấy thật sự đau đớn khi phải đối diện và giằng co với cái ‘Ta’. Tin tưởng vào pháp Tổ và đạo lý của Thầy & Cô, tôi cố dấn thân tu tập trải nghiệm, đem những bài học ra áp dụng thực tiễn vào đời sống hằng ngày. Quả nhiên, sau thời gian ngắn tôi nhận ra sự hiểu biết của mình được mở rộng, cùng lúc tôi cũng nhận ra mình đang thật sự tu học theo tư tưởng, pháp thân của Tổ, về chân lý, về sự thiện lành, cũng như lòng hy sinh và tinh thần phấn đấu trong mọi nghịch cảnh.

Tổ dạy: “Họ tất cả đều là thầy miễn phí.” Ta luôn quan sát và lắng nghe để rút ra những kinh nghiệm sống. Và nên nhớ rằng, khi ta học hỏi mọi người, thì mỗi môn sinh dù muốn dù không, cũng đang bị mọi người quan sát trong mọi thời điểm. Chúng ta đều biết rằng, ngoài lực của ta còn có sự gia trì của Tổ và các hộ pháp vô hình. Các vị này cũng đang theo Tổ tu hành, vì vậy trong lúc thực hành truyền năng lượng, đặt bịnh cho tha nhân, một khi lời nói việc làm và ý nghĩ của ta không trong sạch trang nghiêm thì lực lượng vô hình này sẽ tan biến ngay. Do đó, ta có thể mang tội phá hoại pháp môn vì người bịnh có thể đánh giá sai lầm. Dần dà, những điều tổn phước này sẽ dội ngược lại tạo thành bao nỗi nặng trược. Vô hình chung, chúng ta đã vô tình đi ngược với ý nguyện là tạo nghiệp lành, lập chút công đức trong thời gian ngắn ngủi quí báu ở thiền đường.

“Đời sống mặc dù quý, quả thật là bấp bênh vô định..” Lời dạy của Đệ Nhị Sư Tổ về đời sống của con người tuy quý nhưng không thật và ngắn ngủi. Vì không thật, nên ta không nắm giữ được, và cũng không quyết định được sự sống còn của ta. Nó ngắn ngủi vì xã hội ngày càng phức tạp, con người bị nhiều giao động về niềm tin. Kết quả là đạo lý bị suy đồi và tâm linh suy thoái. Tâm trí con người đầy rẫy những sự đau khổ bất an, tham lam, ích kỷ, thù hận, hung bạo... Sống trong môi sinh như vậy, chúng ta không thể tránh được thân bịnh và tâm bịnh. Do đó cái chết có thể đến bất cứ lúc nào.

Tội nghiệp thay cho những người có tư tưởng cố bám víu vào những giả tạo thế gian. Phải chăng vì họ sợ mất đi những gì họ đang có và sẽ phải đương đầu với những nghiệp quả mà họ đã gây ra? Vậy tốt hơn hết, ta nên chấp nhận về một sự việc không thể cưỡng lại, để sẵn sàng đối đầu hầu thoát ra khỏi nỗi sợ hãi trên.

Thật may mắn cho chúng ta được theo dự phần học pháp môn VDPHT với tôn chỉ là diệt khổ và giải thoát. Với sự hướng dẫn tận tình và kỹ thuật sáng tạo của Thầy & Cô, chúng ta được khai tâm mở trí bằng những phương tiện rất thực tế. Các môn sinh nhờ đó có cơ hội hành pháp, nâng cao trình độ hiểu biết tâm linh, cứu mình và cứu người thoát khỏi cảnh trầm luân đau khổ của thế gian, đem về những công quả thành tựu vĩnh hằng. Nền khoa học đã phát triển vượt bực và con người ngày nay văn minh tiến bộ, chúng ta phải học theo lời Tổ sống với đương niệm, tìm con đường phù hợp với lối sống mới, quan niệm mới, từ bỏ những tập tục mang tính cách hình thức, cổ hủ mê tín và lạc hậu. Chúng ta cố nhận ra sai lầm của bản thân, hầu thoát khỏi những ràng buộc. Ngay từ cấp một, Tổ ban cho chúng ta hai quyền lợi căn bản và thiêng liêng, đó là quyền tự chữa bịnh cho bản thân và quyền không giận người khác. Tổ không ràng buộc ta vào giới luật, để ta có thể từng bước gạt bỏ tánh xấu, nhận ra lợi ích để thay đổi. Tôi lần cảm nhận sự nhẹ nhàng trong tư tưởng, và tinh tấn hơn vào công việc phục vụ cho sự tiến hóa chung. Đó cũng là nhờ tôi có cơ hội đi theo Thầy & Cô, các vị giảng huấn và các huynh trưởng trong những dịp tổ chức các lớp học thiền. Thời gian đó thật khó quên, vì tôi đã sống rất bình an, chân thật và hạnh phúc hòa đồng. Tôi như không còn sống cho riêng mình, tạm thời thoát ly ra khỏi các dục vọng, những lo toan tính toán đời thường, nhờ đó dẹp được đi nhiều phiền não. Tôi hiểu ra ý của Tổ giảng dạy, muốn diệt khổ thì không được chấp nhận và an trú vào hoàn cảnh hiện tại mà phải tạo ra hoàn cảnh mới, nhân duyên mới, trên cho con đường phụng sự tiến hoá cho thế hệ này và mai sau.

Nhờ những thuận duyên đưa đến, cuộc đời tôi được thay đổi theo chiều hướng thanh cao và thực hành thiền định có kết quả tốt hơn. Một khi tu thiền đúng phương pháp, mỗi môn sinh là một nhà máy thanh lọc cho bản thân và môi trường. Hằng ngày chúng ta sống trong môi trường đầy những trược khí, nhưng nhờ phương pháp thiền định thiết thực, ta giữ tâm hồn mình được bình an, cầu lực gia trì của Tổ cùng lúc tiếp thu những thanh khí từ vũ trụ, và đẩy ra những trược chất ô nhiễm trong bản thân. Từ đó ta có thể phát ra những tư tưởng thương yêu thanh cao nhẹ nhàng, như các cây xanh đang hút khí Co2 và thải ra khí O2 nuôi sống muôn loài. Lực gia trì của Tổ bảo vệ ta đi vào cuộc đời phức tạp, tiếp xúc tha nhân nhưng không bị vướng trược. Vì ta không cố chấp vào những gì ta đã làm và làm cho ai, ta tiếp xúc với tha nhân mang nhiều bịnh, phiền não và nghiệp, giống như là đất, nước và phân để nuôi hạt giống bồ đề của mình. Vì theo pháp Tổ tu hạnh Bồ Tát là phải chấp nhận gánh chịu mọi hy sinh, cố gắng kiên tâm bền chí gầy dựng đức tính chịu đựng. Từ đó ta có cơ hội học hỏi để rút kinh nghiệm. Họ là ân nhân giúp ta phát triển căn lành, tiêu trừ nghiệp ác để nhanh chóng trên con đường trở về nguồn cội.

Pháp Tổ cao siêu như vậy, sao trước đây tôi đã dại dột làm sai? Thì ra tôi đã từng nói những điều lượm được của các đấng cứu độ rồi đi phổ biến để chứng tỏ tôi cũng là người hiểu biết. Nhưng càng nói ra, tôi càng bộc lộ những điều thiếu sót, trống vắng của bản thân. Vì tôi thiếu hành & thực hành không đúng, nên không đáp ứng được yêu cầu chung. Cho đến khi trải nghiệm mới nhận ra kiến thức mình còn non nớt nên hay phạm lỗi lầm.

Từ sai lầm đó tôi biết cảm thông với tha nhân và diệt được tánh kiêu mạn, nóng giận. Nếu ai chưa từng đau khổ vì bịnh, trược thì sẽ không thông cảm được với bịnh nhân và môn sinh mới. Như vậy có phải những bài học đau khổ là những bài học kinh nghiệm quý báu và cần thiết cho tôi vượt ra khỏi sự thấp hèn tội lỗi, để ra khỏi nghiệp dữ, bước vào nghiệp lành. Vậy nghiệp đã dẫn dắt tôi đi vào cay đắng đau khổ hay nghiệp dẫn tôi thoát ra khỏi sự u mê? Sao mâu thuẫn vậy, cái gì trong tôi đang tranh đấu giữa điều phải và điều trái? Phải chăng đây là ý của câu ‘‘Tu để thấy việc đời đầy mâu thuẫn..’’ mà Tổ đã dạy? Có phải khi chúng ta gặp nghịch cảnh chướng ngại trên đường đời là những lúc các đấng thiêng liêng đang tẩy rửa và thử tâm & trình độ của chúng ta? Như vậy có phải sự suy nghĩ của chúng ta thường 180 độ so với chân lý, với sự chỉ dạy của các đấng thiêng liêng? Như thế sự sống đâu phải là nhỏ bé ngắn ngủi nữa, mà có thể là một chuỗi liên tục từ một lớp học này sang đến một lớp học khác, giúp cho linh hồn tiến hoá, nếm đủ mùi vị khổ đau, hạnh phúc giả tạo của cuộc đời. Vì vậy, khi đã nhận ra không còn cái con người thấp bé, thì ta không nên lo sợ mà phải nên tập trung thời gian và công sức vào giúp đỡ tha nhân và đi tìm cái thật sự trường tồn vĩnh hằng.

Nương theo Tổ, ta nhận được thật nhiều sức khoẻ, an lạc, phước, công đức & trí tuệ, nhưng Ngài dạy đã không ban phát gì cho ta. Bằng những minh triết & tư tưởng chứng đắc thiêng liêng, Tổ dạy ta biết mình là ai, mỗi người điều có cơ hội & phương tiện tu học tiến hóa. Khi ta quyết định tu học thì Tổ là người bạn đồng hành với chúng ta. Phải chăng đây là chân lý bình đẳng, hòa đồng mà Tổ đã dạy? Tổ từng dạy cho ta nhận ra được vũ trụ, con người và vạn vật là một tổng thể bất khả phân, vì tất cả xuất phát cùng một nguồn gốc đó là Thượng Đế. Vậy để được Tổ làm bạn đồng hành (để ta được tốt đẹp, an lạc & thảnh thơi) chúng ta phải mở tâm và tập làm, tập nói & tập suy nghĩ giống như Tổ. Tình thương của Tổ bao trùm tất cả muôn loài vạn vật, vậy ta cũng phải phát tâm hoà hợp, thương yêu và cứu độ chúng sinh. Đó cũng là phương tiện để ta trả nợ cho chúng sinh, giải trừ nghiệp chướng.

Một sự kính trọng luôn tràn dâng trong lòng, mỗi khi tôi nhìn lên ảnh của Tổ. Dù biết rằng đây chỉ là tấm ảnh để cho các môn sinh máng tâm mình vào khi bị bất an, nhưng hình ảnh vị Tổ Sư ra đi tìm đường tu học chân lý, giải thoát khỏi ràng buộc thế gian thật quá cao cả. Hình Tổ thật đơn giản, có chi ngoài tấm áo, túi vải và trên tay cây gậy thô sơ. Đôi khi hình ảnh đó thật cao xa, nhưng lại có lúc tôi cảm thấy thật gần gũi. Trong tôi nảy lên tình cảm vừa thương kính vừa e ngại, cùng lúc lại có ước muốn được Tổ cầm gậy điểm hoá, để đánh thức người học trò này ra khỏi những mê vọng và ảo tưởng. Không, tôi không hề được thấy Tổ, nhưng có niềm tin về thần lực của Tổ luôn gia trì độ lực, che chở cứu giúp trong những tai nạn gần kề, hay được an ủi trong những giây phút đơn độc. Niềm tin này đem đến sự nhẹ nhàng và sự thận trọng vì biết rằng trong vô hình, Tổ hằng luôn quan sát mình. Tôi nhận ra được sự vĩ đại về lòng từ bi và trí tuệ của Tổ. Ngoài việc rèn luyện các môn sinh được thân khoẻ mạnh, tâm thanh tịnh, Ngài đang chuẩn bị hành trang tâm thức về đạo đức, tình thương, sự sáng suốt, sự dũng cảm và sức chịu đựng phi thường, hầu cho các môn sinh có thể đối diện với những thay đổi đang và sẽ xảy ra cho trái đất, trên cuộc hành trình tiến hoá tâm linh trở về nguồn cội. Tổ đã nhắc nhở về thời kỳ biến thiên, thanh lọc, nhân loại thay đổi chuyển hoá lên thời kỳ Thánh Đức. Và pháp Tổ là con đường tắt, là xa lộ để các môn sinh có cơ hội trở về quê hương tinh thần mau chóng. Vậy mỗi chúng ta hãy tập luyện và chuẩn bị vững tay lái cho theo kịp & hòa nhịp vào giòng vận hành của vũ trụ.

Tôi đã suy nghĩ từ lâu, có nên nói ra những điều lỗi lầm này, chỉ xin trình lên đây như là bài viết của người học trò, để Thầy & Cô và các vị huynh trưởng xem xét, chỉ dạy thêm. Pháp môn VDPHT ngày càng phát triển, nhiều thiền sư và thiền sinh đã đạt được sức khoẻ tốt, tư tưởng vững chắc và hiểu biết trong sáng. Trên con đường tu học tâm linh, tôi hy vọng phát triển trí tuệ để linh hồn có cơ hội chứng nghiệm và phát huy sự dũng cảm giúp thoát ra các sự ràng buộc, khắc phục được sự yếu hèn. Cầu mong có nhiều bạn đồng hành cùng hạnh nguyện sống với tâm bất biến giữa giòng đời vạn biến, biết lấy pháp Tổ làm lẽ sống, làm phương tiện cứu cánh. Có như thế, ta mới hy vọng thu nhận được ánh từ quang của Tổ chiếu đến mảnh ruộng tâm đang vun xới của mình, giúp cho hoa màu trí giác nở ra. Hoa sẽ luôn thơm ngát và lan rộng, làm đẹp cuộc đời thêm mãi. Một khi trí giác đã mở ra, tâm ta sẽ tự ý thức những cảm giác nhẹ nhàng, an vui và hạnh phúc. Hy vọng trong tương lai, sẽ có nhiều môn sinh hơn nữa theo pháp Tổ tu hạnh Bồ Tát, sẵn sàng theo kịp với trào lưu của pháp môn đã và đang được Thầy Cô Chưởng môn và các giảng huấn mở đường. Chúng ta sẽ cùng thừa hưởng sự nghiệp vô giá của Đức Sư Tổ, cùng lãnh trọng trách mang ánh sáng chân lý, niềm an vui hạnh phúc và những huấn từ thiêng liêng đến cứu độ cho tha nhân ở mọi quốc gia trên thế giới, hầu khai phá và cải biến những mảnh ruộng hoang thành những Tâm Điền Nở Hoa.

NS.16_Nguon hanh phuc cua mot kiep nguoi

NS.16_Nguon hanh phuc cua mot kiep nguoi

Giảng huấn Lâm Sơn

Con Kính Lạy Đức Sư Tổ Dasira Narada
Kính Lạy Đệ Nhị Sư Tổ Narada Mahathera
Kính Thưa Nhị Vị Ân Sư
Mến Chào Các Đồng Môn Xa Gần

Từ khi con quyết chọn Pháp Tổ làm lẻ sống hằng hữu cho cuộc đời còn lại này, con có một ước muốn đơn thuần duy nhất đó là: Mong sao tất cả mọi người đều có thể hưởng được cái ân phước ngàn đời mà Đức Sư Tổ đã ban cho.

Bởi lẽ ấy, hôm nay, nhìn thấy được cái khung cảnh vui tươi, buổi họp mặt đông đảo của các Môn Sinh về đây Mừng Sinh Nhật Tổ, chan chứa tình người, thể hiện được sự khắn khít tình Huynh Đệ của chúng con, đối với Sư Tổ, đối với Pháp Môn, đối với Nhị Vị Sư Phụ tôn kính.

Lòng con rất vui mừng, khi thấy được sự phát triển lớn mạnh của Vi Diệu Pháp Hành Thiền, mà Nhị Vị Sư Phụ đã âm thầm tư duy hy sinh, tận dụng hết cả cuộc đời, đem hết tâm huyết để truyền dạy, chăm sóc, cho từng môn sinh, cho từng thiền đường khắp mọi nơi trên cái tinh cầu này. Một lần nhắc đến là một lần xúc động!

Uổn cho ai kia đã phủi sạch đi cái ơn phước này!

Tổ ơi!

Sư Phụ, thân mang nhiệm vụ của một Thiên Sứ. Với công đức vô biên, với tấm lòng từ bi cao cả, làm vẻ vang Pháp Tổ, phát huy tư tưởng của Ngài. Sư Phụ dùng cái đạo lý vững chắc, bằng chính tư duy của mình để sáng lập ra pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền, đã cảm hóa và xoa dịu biết bao nhiêu thân bệnh, tâm bệnh của con người. Đúng ý thiên cơ.
Phẩm hạnh nhân từ của Nhị Vị Sư Phụ:
- Phát xuất từ kho tàng kinh nghiệm của một đời người.
- Phát xuất từ công trình tụ tập của nhiều đời nhiều kiếp.

Với hai phẩm tính này của Nhị Vị, thấm nhuần chân lý của những giáo lý, đi sâu vào tận cốt tủy của phật pháp. Tất cả được gói trọn trong những huấn từ vàng ngọc, đó là những "Minh Triết" mà Nhị Vị đã truyền dạy cho chúng con.

Cái "Minh Triết" ấy thanh thoát nhẹ nhàng như một hương thơm tỏa ra xa khắp cùng thiên hạ, bay cao khỏi hàng rào mê tín. Nó thấm sâu vào tâm thức của từng môn sinh, tạo dựng nên chiếc cầu tâm thức, nối liền giữa thiêng liêng với nhân loại, giữa cái chân tình, Thầy với Trò. Nhờ đó, chân tâm của chúng con được khơi dậy để mà chợt tỉnh.

- Khi chợt tỉnh, mới hay rằng cuộc đời của mình gần như đã hết.

- Hết u mê, mới hiểu được cái gía trị thật sự của kiếp làm người.

Nếu không gặp được Minh Sư, học được cái pháp siêu việt của Tổ, học được cái đạo lý trong sáng của Sư Phụ thì cái kiếp làm người của con đã tàn lụi theo năm tháng! Đó là một nguồn hạnh phúc chân thật, đúng với câu:

Đức Phẩm Vang Lừng Thuận Thiên Truyền Chánh Pháp
Ngọc Sáng Soi Tứ Hải Khởi Phát Tâm Linh

Dẫu biết rằng: Theo Tổ đoạn đường nào, học được đoạn đường đó mà thôi. Bởi Pháp Tổ mênh mông như biển cả ngút ngàn, như lá cây rừng trùng điệp, khó có thể lãnh hội được bởi trí non nớt của một phàm phu.

Ở trong cái thời kỳ mạc pháp này, nhân loại sống trong cảnh nhiễu nhương, hỗn loạn, thiên tai liên tục, ác trược dầy đặc, bệnh tật lan tràn. Vậy mà con người vẫn tiếp tục mê ngủ trong vòng sanh tử luân hồi, vẫn tiếp tục mãi mê lo xây dựng, tìm kiếm cho nhiều của cải, cố gắng giữ cho nhiều cái "giã tạm" của thế gian. Để rồi tạo thêm nhiều phức tạp, xáo trộn, tạo thêm nhiều sai lầm tội lỗi, làm lu mờ đi cái chân ngã vốn đã có sẳn từ thuở ban sơ.

May mắn thay! Chúng con đã gặp được Minh Sư, học được cái đạo lý trong sáng vững chắc của Pháp Môn “Vi Diệu Pháp Hành Thiền”, là một Pháp cứu độ, cũng là một cơ hội cuối cùng hỗ trợ cho những ai hữu duyên mà tìm đến để được hướng dẫn tu tập, biết phụng sự để chuyển tâm, hầu có thể thích ứng kịp, trong cái chu kỳ tiến hóa mới của nhân loại, theo cái tiến trình, vận chuyển không ngừng của càn khôn, dưới sự an bài huyền bí, của cơ trời, vì cơ trời chỉ có một, đó là cơ tiến hóa.

Pháp Môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền ra đời không phải là một tôn giáo, mà là một pháp cứu độ đem phước lành đến cho chúng sanh, ban rải tình thương trong sáng thật sự không giả dối, giúp cho nhân loại tiến lên nấc thang tiến hóa, đi đến chổ trọn lành.

Giờ đây, trãi qua bao tháng năm thật tâm không sờn lòng, theo Thầy tu học, con vẫn thấy yếu đuối, non nớt trên bước đường tu, bởi Pháp Tổ mênh mông; con chỉ biết dựa vào những đạo lý trong sáng của Ân Sư, bước lần từng bước một trên từng nấc thang tiến hóa.

Nhớ từng lời giảng dạy của Nhị Vị Ân Sư, nó ngân nga như hồi chuông nhắc nhở cho con, hàng giờ trong thiền định, hàng ngày trong cuộc sống.

THẬM THÂM VI DIÊU PHÁP HÀNH THIỀN
BÁ THIÊN VẠN KIẾP DUYÊN TAO NGỘ

Mọi việc trên đời đều có cơ duyên:
- Duyên Cha Mẹ, Duyên Thầy Trò, Duyên Đồng Môn
- Duyên Anh Em, Duyên Chồng Vợ.
-
Nghĩ đến một lúc nào đó, ở một kiếp khác, chúng ta có còn duyên để gặp lại nhau nữa không? Cái suy nghĩ này làm cho lòng con se thắt lại! Bánh xe tiến hóa vẫn quay đều. Mến thương cho những duyên vừa kể, biết làm sao hơn.

Con chỉ biết tự nguyện với lòng mình, cố gắng giữ được ý chí kiên cường, với đầy đủ nghị lực, vượt qua những khó khăn quyết không vấp ngã trên con đường tu học. Ước mong trong kiếp duyên này, tiếp tục được Nhị Vị Ân Sư dìu dắt, cho đến một lúc nào đó, con có thể thấy "Núi" vẫn là "Núi", "Sông" vẫn là "Sông" muôn đời không thay đổi. "Núi” “Sông" sẽ không chi phối được lòng con. Đúng như lời Tổ dạy. Là lúc thấy được "Sự Thật" của "Sự Vật". Để cho cái kiếp làm người còn lại này của con còn chút cơ hội phụng sự cho đời, để cho cuộc đời này bớt khổ thêm vui!

NS.17_Cam tuong trong ngay Sinh Nhut To

NS.17_Cam tuong trong ngay Sinh Nhut To

CẢM TƯỞNG TRONG NGÀY SINH NHẬT
ĐỨC SƯ TỔ DASIRA NARADA
Môn sinh Trần Đình Quang
TĐ Mississauga

Ðối với pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền, ngày 24 tháng 10 mỗi năm là một ngày thiêng liêng và quan trọng hàng đầu. Ðó là ngày sinh nhật của Ðức Sư Tổ Dasira Narada, vị Tổ kính yêu đã khai sáng Vi Diệu Pháp Hành Thiền, một diệu pháp khoa học tâm linh, hướng dẫn cho nhân loại tu thiền để thanh lọc thân tâm và hành thiện giúp đời. Từ từ người môn sinh sẽ hiểu rằng càng dấn thân giúp đời thì càng có nhiều cơ hội để thể nghiệm tâm thức ngỏ hầu chứng thực tâm linh, với cứu cánh tối ưu là diệt khổ và giải thoát ngay trong thế giới hiện hửu này.

Cũng trong ngày lễ này mọi môn sinh ghi tâm cảm kích Thầy Nguyễn Ðức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải, những người đang mang sứ mạng thiêng liêng, truyền đạt minh triết uyên thâm của Ðức Sư Tổ Dasira Nadada cho nhân loại tu học. Thầy Cô hướng dẫn cho môn sinh tu tập để phát triển căn lành, tiêu trừ nghiệp dữ; Thầy Cô giảng dạy và giãi thích ý nghĩa chân thật của đời sống tâm linh; để rồi từ đó mỗi môn sinh tự ý thức, hy sinh tư lợi của đời sống vật chất, chăm lo tu học theo đời sống tinh thần, để được thăng tiến trên con đường tiến hóa tâm linh đầy ý nghĩa.

Một điều rất vui mừng trong ngày sinh nhật Tổ, đó là sự hiện diện của nhiều anh chị em môn sinh, mà thường ngày không có điều kiện để đến thiền đường sinh hoạt thường xuyên, phần đông là còn bị chi phối bởi công ăn việc làm, hay là trách nhiệm con cái. Thế mà đến ngày 24 tháng 10 mỗi năm, các anh chị luôn luôn tranh thủ về họp mặt đông đủ. Nét hân hoan trên từng khuôn mặt của mọi người nói lên rằng, trong tâm các bạn vẫn luôn hướng về Tổ, và những hạt giống tình thương của Tổ mà Thầy Cô đã gieo trên mảnh đất tâm của các bạn, vẫn đang ngấm ngầm. Mong rằng các bạn luôn chuyên tâm bảo trì những hạt giống thiêng liêng, mà chúng ta đã may mắn nhận được. Nguyện cầu Ðức Sư Tổ Dasira Narada gia hộ cho những hạt giống này có điều kiện phát triển thành những hoa màu tri giác.

Nhân ngày sinh nhật Tổ, các môn sinh lại có cơ hội lắng tâm nghe “Tiểu Sử Ðức Sư Tổ, Dasira Narada”, thơ “Chân Lý” của Ngài, và huấn từ của Thầy Cô. Đây là 3 món quà tinh thần hàm chứa những ý nghĩa chân thật và nguyên lý của sự tu học, mà người môn sinh nên triển khai để cùng nhau tu tiến, vì nếu không thì ý nghĩa của đạo lý Tổ mà Thầy Cô đã thiền định, tư duy, và gói ghém trong các bài huấn từ cũng đi vào quên lảng theo thời gian.

Trước hết là bài “Tiểu Sử Ðức Sư Tổ Dasira Narada” bản thân tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần. Thế nhưng lần này trong khi nghe Tiểu Sử Ðức Sư Tổ đọc trong ngày sinh nhật của Ngài, tâm khảm tôi lại dấy lên những nhận thức khác lạ. Khi nghe đến đoạn “Sau 18 năm tu tập, Ngài đã đắc đạo”, tôi tự hỏi một đời người vốn chẳng là bao, thì 18 năm tu học làm sao đắc đạo như Ngài? Ðiều này nói lên rằng Ngài đã dày công tu học nhiều đời nhiều kiếp, để tìm ra phương pháp cứu nguy cho nhân loại, thoát ra khỏi cảnh trầm luân đau khổ. Ðó chính là công đức vô lượng và trí tuệ vô biên của Ngài mà chúng ta khắc tâm tưởng nhớ, đó là vốn luyến tu học và chứng nghiệm của Ngài qua nhiều kiếp tiến hóa; và đó cũng chính là Minh triết Vi Diệu Pháp, một phương tiện tu học ưu việt của Pháp môn VDPHT.

Kế đến là bài thơ “Chân Lý”, đây là món quà tinh thần mà Ðức Sư Tổ ban tặng cho thế gian. Bài thơ này là một cái bản đồ tâm linh dẫn đường cho mọi môn sinh tu học và hành đạo. Lắng tâm nghe, chúng ta thấy từng ý nghiã của từng câu thơ diễn tả một sự thật của sự vật; từng ý nghĩa của từng đoạn thơ diễn đạt những chân ý, trải nghiệm sâu xa trong cuộc đời. Từ buổi sơ khai bước vào đường đạo, Ngài dạy: “Thuyền có nước thì thuyền mới chạy, Ðạo có đời thì mới phát huy...” Nói lên ý nghĩa đời đạo song tu của pháp môn VDPHT. Điều này hàm ý, tu không có nghĩa là phải cách li ra khỏi xã hội và đời sống bình thường của con người. Ngược lại, chính mọi hoàn cảnh trong đời sống thế gian làm nền tảng cho sự tu tiến. Kế đến, Tổ dạy cho môn sinh biết bao trải nghiệm, thử thách trên con đường tu học, ví dụ: “Vào đường tu phải tuyệt vời can đảm, Dám len mình trong nghịch cảnh mà đi.....Tu để biết việc đời đầy mâu thuẫn...Xét tận cùng để đạt lý uyên thâm...”; Và ý nghĩa cuối cùng của con đường đạo là: “Yêu nhân loại nào khác thể thân ta, Ðưa nhân loại hoàn hư về một nẻo.” Nói lên rằng toàn thể nhân loại cùng một nguồn gốc mà ra, và chỉ có con thuyền của tình thương yêu nhân loại, mới đưa con người trở về quê hương tinh thần hợp nhất.

Tuy nhiên dầu có phương tiện, dầu có bản đồ, mà không có ngọn đuốt soi đường, thì chúng ta cũng chỉ lần mò, nổi trôi trong bến mê tăm tối mà thôi. Người tu cần ngọn đuốt tâm linh, để soi sáng cho mình được vững tâm và sáng suốt đi trên con đường đạo để cập vào bờ giác. Ngọn đuốt đó là những bài Huấn Từ Tổ, là Đạo Lý Tu Học, mà Thầy Cô đã tư duy từ Minh triết của Tổ trong thế giới tu chứng, rồi chuyển sang ngôn ngữ thế gian, để giảng giải sâu xa về đạo lý, thiên cơ, cho môn sinh tu học. Vì sao mà Đạo Lý Tu Học lại gọi là ngọn đuốc tâm linh ?… Vì đạo là con đường tu tiến tâm linh, mà lý của đạo là những sự giảng giải chân thật để hướng dẫn cho người tu đi đúng đường, đúng hướng. Bởi vậy, người tu cần phải học ở lý đạo để soi sáng tình đời, chứ đừng để tình đời ảnh hưởng đến lý đạo! Sự thật đã chứng minh rằng, có nhiều môn sinh đến với Pháp môn VDPHT bằng sự nhiệt tình và rất năng nổ ở buổi ban đầu, nhưng vì thiếu ý thức không nương theo lý đạo, nên đã bị tình đời lôi cuốn vào dục vọng tham lam, và trở thành những kẻ nghịch đạo phá đời.

Bài pháp của Cô năm nay dạy về tình thương của Thượng Ðế. Tình thương này bao la vô bờ bến, do đó tùy hoàn cảnh, tùy cá nhân mà mỗi người tự cảm nhận. Riêng đối với môn sinh VDPHT, tình thương là yếu tố căn bản để lập hạnh từ bi, và tạo dựng công đức, bởi vì chỉ khi nào chúng ta phát tâm thương người thì các Đấng Thiêng Liêng mới rót lực tình thương cho chúng ta truyền năng lượng giúp người có hiệu quả. Một khi chúng ta lấy tình thương chân thật để đối đải với bịnh nhân thì người ta cũng đáp lại với tình thương và lòng tin tưởng. Ðây là nguyên lý của định luật đối đải, mà Thầy và Cô luôn luôn nhắc nhở môn sinh. Một khi người bịnh đã tin tưởng ở ta, thì họ sẽ sẵn sàng mở tâm đón nhận năng lượng tình thương. Họ sẽ không ngần ngại thổ lộ những đau đớn thể xác, những phiền nảo tinh thần. Để chúng ta hiểu được căn nguyên, lúc đó chúng ta sẽ dùng từ trường năng lượng giúp trị thân bịnh và dùng tình thương và sự hiểu biết của mình để giải tỏa tâm phiền nảo và bất an cho họ.

Là môn sinh VDPHT, chúng ta là những người đang mang sứ mạng của tình thương mà Đức Sư Tổ giao phó. Tình thương có những khả năng thật vị diệu. Một đàn gà mẹ nhỏ nhen ốm yếu. Thế nhưng khi gặp lâm nguy, vì tình thương mà gà mẹ xòe cánh bảo vệ đàn con, rồi phồng mang phóng ra những làn sóng dũng mảnh khiến diều hâu chó dữ phải chồn bước thối lùi. Ðiều này nói lên cái mảnh lực kỳ diệu của tình thương. Một con gà mái yếu đuối mà còn có khả năng xử dụng tình thương của Thượng Ðế, huống gì con người. Bởi vậy trong bài pháp của Cô có đoạn nói: “Tình thương của Thượng Ðế bao la vô bờ bến, ngập tràn trong vũ trụ, luân lưu trong từng hơi thở của muôn loài vạn vật ”. Tình thương chân thật quả là vô biên!

Bài pháp của Thầy năm nay, giảng về “Ðịnh luật Nhân Quả rất công bằng của Tạo Hóa...”. Hầu hết mọi người cũng đã thường nghe về luật Nhân Quả. Nói một cách đơn giản, nhân là nguyên nhân hay là cái nhân, cái hạt; quả là hậu quả, hay là cái quả, cái trái. Nhân tốt thì tạo ra kết quả tốt, cây lành trái ngọt. Nhân xấu thì nhận lấy hậu quả xấu, cây yếu trái hư. Do đó nếu chúng ta làm bất cứ điều gì xấu hay tốt, dầu nhỏ nhoi hay kín đáo đến đâu, tự nó sẽ ghi sâu vào tàng thức của mình; đó là những chủng tử thiện-ác trong tâm ta. Vì sao lại gọi là chủng tử? Chủng là chích hay cấy; tử là nhân! Và tàng thức là kho tàng của sự vật, ghi lại tất cả những gì chúng ta đã tạo ra. Trên phương diện vật lý, tàng thức cũng giống như cuốn film của cái máy chụp hình, hay là cái memory card của máy computer, hay là cái hộp đen trong chiếc máy bay. Phải chăng đây là những dữ kiện để Trời Ðất phán xét chúng ta thích đáng bằng luật Nhân Quả; có nghĩa là tự tạo thì phải tự thọ; đó là nghiệp quả. Vậy thì chúng ta sẽ không còn than trời trách đất cho hoàn cảnh không may nếu có của mình, ngược lại chúng ta sẽ ý thức tu tập để dừng nghiệp, rồi phát tâm hành thiện giúp đời để trả nghiệp. Và chúng ta cũng bình thản trước hoàn cảnh bất hạnh của người khác. Bình thản không phải là thờ ơ, mà bình thản là bình tâm, quân bình và sáng suốt để ứng dụng lý đạo, rồi đem ra giúp đời mà không bị tình đời chi phối. Ðến đây chúng ta hãy hồi tưởng lại lời giảng của Thầy để mà nghiền ngẫm: “Tất cả mọi hoàn cảnh hay sự vật nào xảy ra trong thế gian đều có nguyên nhân và lý chân thật của nó”. Cũng như trong bài giảng của Cô có đoạn viết: “Những bất công, tai nạn, bịnh họan, nghèo đói, chiến tranh hay thiên tai trên cuộc đời này đều nằm trong Luật Nhân Quả ”.

Bây giờ chúng ta là những người môn sinh VDPHT đang tu sửa để tam hồn của chúng ta được tiến hóa từ danh-lợi-tình lên bi-trí-dũng. Hiền nhân nói: “Một trong những hạnh dũng cảm của người tu, là hạnh biết phơi bày ra cái sai của mình để mà tự sửa“. Tự sửa ở đây có nghĩa là ta tự giác, mà tự giác là bước đầu để đi đến giác ngộ. Còn nếu mình cứ lo che dấu cái sai của mình thì làm sao mà sửa? Và cái sai mà mọi người thường vướng phải là luôn luôn che dấu cái xấu của mình, tọc mạch dèm pha người khác. Đấy thật là căn bịnh nan y. Nếu một cái tô dơ mà mình không rữa và để quên đâu đó, chỉ vài ngày sau là lên mốc lên men, ô nhiễm hôi tanh. Thử hỏi một điều xấu dơ mà mình đem dấu nhẹm vào tâm, năm này qua năm nọ, kiếp này qua kiếp khác, thì nó tệ hại biết chừng nào? Mà muốn tu sửa những sai trái trong tâm thì chúng ta phải quay vào bên trong mà sửa. Chúng ta lấy cái chân ngã để sửa sai cho cái phàm ngã, bởi vì chính cái phàm ngã trong ta đã khiến ta làm điều sai quấy. Hầu hết con người chỉ lo hướng ngoại, phô trương một vài cái đẹp bên ngoài, che đậy tham lam dơ bẩn bên trong, đuổi theo cái vọng tâm thăm thẳm, cho nên càng ngày càng xa rời bản tánh chân thiện của mình? Bởi vậy con đường tu thiền là con đường hướng nội, lấy từng cái sai của mình ra mà sửa, lấy chân ngã chiến đấu với phàm ngã, cho đến khi nào phàm ngã chịu hoà hợp với chân ngã thì đó là hoà đồng hợp nhất. Không còn tranh chấp đúng-sai, không còn sự hiện diện riêng biệt của chân ngã hay phàm ngã. Phải chăng đây chính là ý nghĩa của vô ngã, phi thiện-phi ác? Đường đến chân thiện quả là vô ngã!

Thiết nghỉ rằng, trên con đường tiến hóa là những sự đối đải giữa chân ngã và phàm ngã ở trong ta, và những sự đối đãi giữa chân ngã và phàm ngã của ta với người:

Thứ nhất, đó là sự đối đãi giữa cái phàm ngã của ta với cái phàm ngã của người. Khi chưa tu thì mình là phàm phu, là phàm phu thì lấy phàm đối lại với phàm cũng là điều hợp lý. Nhưng đã là người tu thì chúng ta phải hiểu rằng phàm ngã là cái ta, xấu xa, ích kỷ, hơn thua. Ðem cái xấu mà đối chọi với cái xấu thì chỉ có chiến tranh tang tóc. Ví dụ, sống ở đời làm sao tránh khỏi chuyện hiểu lầm xích mích. Nếu ai đụng chạm mình rồi mình tự ái giận hờn, từ chổ ngấm ngầm rồi đi đến bùng nổ, huynh đệ tương tàng thì còn gì xót xa cho bằng. Tệ hại hơn, khi tâm đã bất an thì làm sao mà thiền định tinh tấn để sáng suốt nhận ra đâu là chân, đâu là giả; thì làm sao mà tu học thăng tiến, cản trở đường tu của mình, ảnh hưởng đường tu của người khác.

Thứ hai, đó là sự đối đãi giữa cái chân ngã và cái phàm ngã của chính bản thân mình. Tuy nhiên, phần đông thường cho rằng đó là sự đối đải giữa cái chân ngã của mình với cái phàm ngã của người. Ví dụ: Có người đối xử tệ với mình nhưng mình học hạnh nhẫn và xã, nên vẫn tử tế lại với người ta. Ðấy là điều hay, nhưng mấy ai làm được điều này? Trừ khi họ đã vượt qua sự chi phối của định luật đối đải. Khi đang tu thì lấy chân để đối lại với phàm cũng là điều hợp lý. Nhưng cái thằng anh em phàm ngã của chính mình nó không bao giờ để cho mình yên. Nó luôn luôn đụng chạm với người khác. Nó làm như vậy vì nó vẫn còn đang bị chi phối bởi định luật đối đãi. Rốt cuộc mình sẽ bị giằng co giữa cái chân ngã và phàm ngã của chính mình, do bị ảnh hưởng bởi cái phàm ngã của người. Vì sao mà mình bị ảnh hưởng bởi cái phàm của người khác?… “Vì mình cứ lo mải mê hướng ngoại nên thấy người này tà người kia xấu...” (Bài Pháp số-2 “Trừ Tà Trong Tâm”). Do đó con đường tu sửa là con đường hướng nội để sửa phàm tà trong tâm. Cho đến khi nào tâm mình không còn phàm ngã, thì chân ngã cũng không còn ý nghĩa! Do đó mình sẽ không còn bị chi phối bởi định luật đối đãi. Phải chăng đây là ý nghĩa của “Điều Hành Các Pháp” ?… Thầy Cô thường giảng rằng: “Người đang uống rượu thì chắc chắn phải bị chi phối bởi luật uống rượu lái xe; còn người không uống rượu thì bao nhiêu luật uống rượu lái xe cũng không chi phối được họ, ngược lại họ sẽ ứng dụng luật để điều hành chính bản thân họ và hướng dẫn người khác.”

Thứ ba, đem cái chân ngã của mình để đối đải với cái chân ngã của người khác. Ðiều này chỉ thực tế ở những người đồng duyên, đồng hạnh nguyện mà thôi. Ðây quả là một niềm hạnh phúc thật sự của những người cùng học, cùng tu, cùng hành chử hòa.

Lời nói chân thật vốn vô ngữ.
Tình thương chân thật vốn vô biên.
Ðường đến chân thật vốn vô ngã.
Ðời sống chân thật vốn vô tận.

Bấy nhiêu tâm tình với bạn đồng môn cùng hạnh nguyện, trong ngày sinh nhật của Ðức Sư Tổ Dasira Narada. Kính mong các bạn cùng nhau chia sẽ giáo lý của Tổ và những lời giảng dạy của Thầy Cô, trong tình huynh đệ tỷ muội nhân ái hài hòa. Nguyện cầu Ðức Sư Tổ gia hộ cho chúng con.

NS.18_Mung mua sinh nhat Truong sinh Vi Dieu Phap

NS.18_Mung mua sinh nhat Truong sinh Vi Dieu Phap

MỪNG MÙA SINH NHẬT
TRƯỜNG SINH VI DIỆU PHÁP
Môn sinh Trần Đình Quang
TĐ Mississauga

Mỗi năm cứ vào mùa Xuân, mùa sinh nhật của Thầy và Cô, Thầy Cô lại mở lớp cao cấp, truyền dạy Pháp Tổ để môn sinh thật sự tu học đi vào đời sống tinh thần cao thượng và đầy ý nghĩa. Vào ngày 29 tháng 5 năm 2010, ngày cuối Xuân, môn sinh khắp toàn thế giới hân hoan đón mừng lễ kỷ niệm 14 năm thành lập Pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền. Bài thơ này kính tặng Thầy Cô trong ngày sinh nhật, cũng là ngày sinh nhật của Pháp Môn VDPHT. Do đó xin lấy tựa đề “Mừng Mùa Sinh Nhật Trường Sinh Vi Diệu Pháp”

Một ngày mười một tháng Tư
Giông gầm sấm chớp vòm trời Việt Nam
Ngày này sinh nhật thầy tôi
Người đi khai sáng chân linh tiểu hồn
Huấn từ như ánh dương soi
Đi vào tâm thức diệt loài vô minh.

Một ngày vào giữa tháng Năm
Biển Xanh Tinh Tú vinh danh một người
Minh thông giáo lý mười phương
Người đi gieo giống tình thương khắp đời
Mong rằng hoa nở mọi nơi
Hoa màu tri giác sáng ngời đất tâm.

Vào ngày hai chín tháng Năm
Ca-li mở hội vui mừng đoàn viên
Đón chào đại lễ thiêng liêng
Hoa Kỳ vinh nghị Pháp thiêng độ đời
Pháp Tổ chân lý tuyệt vời
Hành thiền trí tuệ sáng ngời chân tâm.

Pháp Tổ minh triết uyên thâm
Thầy Cô truyền giảng nuôi mầm từ bi
Huấn từ xuyên phá biển si
Môn sinh thiền định tư duy học hành
Mỗi Xuân cây lại thêm cành
Từ Bi Nhân Ái trên nhành Trường Sinh
Mùa Xuân hoa thắm trên cành
Mùa này năm đó duyên lành thế sanh.

NS.19_Cam tuong ve su ra di

NS.19_Cam tuong ve su ra di

CẢM TƯỞNG VỀ SỰ RA ĐI
Môn sinh Trần Đình Quang
TĐ Mississauga

Bản thân tôi cảm thấy thương tiếc khi hay tin một số anh chị em đã rời khỏi pháp môn VDPHT. Cách đây không lâu: một, hai, hay thậm chí cả mươi năm... đại đa số chúng ta chỉ là những phàm nhân; lòng đầy tham đắm, thân đầy bịnh hoạn, khiến chúng ta mê mệt, tâm trí lu mờ không biết phân biệt đâu là chân, đâu là giả. Cái thật của mình ta không trân quí để phát huy, mà cứ chạy theo cái giả tạo bên ngoài; từ đó lòng tham trổi lên lôi cuốn chúng ta vào biển lữa: tham-sân-si; những điều này xui khiến con người tạo đầy nghiệp xấu, để rồi trầm luân trong đau khổ. Thế rồi nhờ Pháp Tổ, qua sự giảng dạy của Thầy Cô, chúng ta như chợt tỉnh, khởi tâm tu học, tập sự giúp đời, qua các hình thức thiền định, giúp truyền năng lượng, tổ chức lớp học, xây dựng thiền đường... biểu hiện sự nhiệt thành đầy khích lệ. Tuy nhiên, dầu cho bất cứ hình thức nào, chúng ta chỉ là những người mới vào đạo và đang tập tỉnh đi trên con đường đạo, nên lòng tham còn đầy dẫy.

Trong dây phút suy tư, thầm nhớ lại những điều Thầy Cô giảng dạy: "Mang thân người, không ai không tham, cái tham phàm tục ô trọc; ngay cả tham thánh thiện siêu thoát cũng đều là dục... với tâm hồn đã thoát ly thì dù là tham thiện, tham tu vẫn không hiện hữu, bởi vì tham là biểu hiện trạng thái dục, mà dục là động tâm, tâm đã vọng động thì không thể giải thoát." Vậy người tu mà còn vọng tâm hướng ngoại tìm kiếm cái này tìm kiếm cái kia là còn chìm đắm trong tham lam vọng tưởng, hay nói cụ thể: tham lên cấp, tham làm đại ca, tham làm người khai mở luân xa, cũng đều là vọng tưởng. Thầy dạy rằng “Trạng thái tâm vọng này, đóng vai chủ động to lớn, luôn dẫn dắt ta lún sâu vào đọa lạc”. Pháp Tổ có đoạn dạy rằng: “Chưa vào đạo thấy núi là núi, sông là sông; vào được đạo thấy núi không phải núi, sông không phải sông; chứng đạo rồi thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông". Ở đây, bạn và tôi, không phải là người chứng đạo, và chúng ta cũng không còn là kẻ vô đạo, mà là những người mới vào đạo. Vậy chúng ta hãy cùng nhau ôn lại lời dạy của Thầy về ý nghĩa này: “Cái thấy của người mới vào đạo, lòng đầy nhiệt thành thì núi và sông không còn là núi và sông, bởi vọng tưởng cộng thêm nhiệt thành biến sanh đại vọng tưởng".

Các bạn thân! Lòng đầy nhiệt thành đáng mến mà cũng thật nguy hiểm đáng cảnh giác. Khi anh chị em chúng ta đến với Vi Diệu Pháp Hành Thiền, chúng ta được Thầy Cô khai mở luân xa, gieo hạt giống Bồ Đề vào tâm ta. Thầy Cô giảng dạy Pháp Tổ để nuôi dưỡng hạt giống Bồ Đề đó. Thầy Cô hướng dẫn cho chúng ta tu học, lập hạnh giúp đời; đó là lúc hạt giống Bồ Đề của chúng ta đang nẫy mầm và lớn mạnh trên mảnh đất tâm của chính mình. Mảnh đất tâm sâu thẳm ấy là nguồn gốc của các tinh hoa Chân-Thiện-Mỹ, là Phật tánh, là Thượng Đế tánh. Vậy mình tu mà cứ lo mãi mê hướng ngoại, tìm kiếm cái này, tìm kiếm cái kia, thì làm sao mà Bồ Đề tâm của mình được phát triển. Hướng ngoại là vọng, mong muốn cái này cái kia là tham hay dục, tìm kiếm cái này cái nọ, cộng lại tùm lum cái là động. Vậy mặc dầu có lòng nhiệt thành mà kèm theo (tham + vọng + động) là đại vọng tưởng, thật đáng nguy hiểm!

Nhìn lại chặng đường mà chúng ta đã đi qua; từ khi gặp được Thầy Cô, chúng ta đã và đang chuyển biến từ tấm thân bịnh hoạn mỏi mòn - đến khoẻ mạnh an vui. Từ tâm hồn hoang dã đầy cỏ dại tham lam - đến thánh thiện trong lành, với tấm lòng vị tha chân ngã. Thầy Cô cũng thường xuyên nhắc nhở rằng: "Con đường theo Tổ dài và dài lắm...". Đó là con đường tiến hóa, là con đường hướng thượng. Mà hướng thượng có nghĩa là đi lên. Thật vậy, anh chị em chúng ta đang từng bước đi lên trên từng nấc thang tiến hóa mà Thầy Cô đang dìu dắt. Chân chúng ta phải thật vững từng bước một, tâm phải thật chắc nương vào Pháp Tổ, vào sự dìu dắt cuả Thầy Cô. Và trên con đường đi lên, đừng nghĩ rằng mình đã đến đỉnh cao rồi dừng lại, sẽ không bao giờ tiến hóa. Tệ hại hơn, khi chúng ta dừng lại vì nghĩ rằng mình đã đạt đến đỉnh cao thì mình sẽ có khuynh hướng nhìn xuống; lúc đó cái ta phàm phu sẽ nỗi dậy, khiến mình chỉ trích người này, phê phán người kia, ba hoa làm thầy thiên hạ. Con đường đạo chân chính nhiệm mầu là con đường diệt bỏ lòng tham vô đáy, diệt bỏ cái ta cao ngạo, đừng để nó trổi lên, khiến ta buông tay - rời thang đạo lý; buông tâm - rời xa Pháp Tổ - rời xa huynh đệ - rời xa thiền đường - đoạn tuyệt Pháp Môn. “Đó là chấp ngã, và chấp ngã thì sẽ ngã mạng”, rơi xuống bể khổ trầm luân. Tệ hại hơn nữa, nếu chúng ta vọng tâm nhảy qua cái thang khác thì chắc chắn sẽ bị té, sẽ bị nó đè bẹp. Các bạn có đồng ý không? Trên thực tế, không một người thợ nào đang ở trên cao mà u mê đến nổi nhảy từ cái thang này qua cái thang nọ. Đấy là chưa nói đến cái thang kia là thang vẽ, thang mê. Nói khác đi là cái thang bùa ngãi. Vì bùa cũng là vẽ - vẽ ngoằn nghèo - vẽ rắn rết; và ngãi là mê. Do dó chỉ có người u mê mới theo bùa ngãi.

Là môn sinh Vi Diệu Pháp Hành Thiền, xin hãy đem tấm lòng nhiệt thành đáng mến này để chúng ta cùng nhau: tay kết tay - tâm nối tâm, xây dựng thiền đường, góp phần phát triển pháp môn để phụng sự nhân loại, trong tình huynh đệ chan hoà, tình thầy trò gắn bó, tình yêu thương đại đồng. Hãy hướng nội để học và hiểu Pháp Tổ nhiều hơn, để có điều kiện giúp đời nhiều hơn, để thương kính Thầy Cô nhiều hơn. Đừng để cho vọng tâm lôi kéo cái nhiệt thành nguy hiểm kia đi hướng ngoại, tìm kiếm cái này, tìm kiếm cái kia để rồi biến sanh đại vọng tưởng. Hãy:

“Nhắm mắt mở tâm tầm chân ý
Vững lòng bền chí thị ý chân.”

NS.20_Ky niem 14 nam thanh lap VDPHT

NS.20_Ky niem 14 nam thanh lap VDPHT

KỶ NIỆM 14 NĂM THÀNH LẬP VDPHT
Môn sinh Lisa Diệu – Ottawa Center
Tháng 5 năm 2010

Kính thưa thầy Thuận và cô Hải. Thân chào các vị quan khách và các bạn môn sinh của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền.

Thật là vinh dự và sung sướng, khi được hiện diện với quí vị trong buổi lễ hôm nay, để đánh dấu một thành quả và bước tiến quan trọng trong lịch sử của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền.

Không phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên mà khoảng 14 năm trước đây, pháp môn VDPHT được thành lập, hình thành một căn nhà tâm linh trên đất nước Hoa Kỳ. Đây là một quốc gia cộng hoà mà trong đó mọi người dân được thụ hưởng nhiều diễm phúc và quyền lợi - như là tự do tư tưởng, một nền giáo dục cấp tiến, công ăn việc làm, sự phong phú trên nhiều lãnh vực và phương diện… Hoa Kỳ là một quốc gia được vinh danh và ngưỡng mộ bởi nhiều người trên thế giới. Quốc gia của các bạn đã được hình thành và xây dựng bởi những bàn tay của người di dân viễn xứ từ khắp nơi, qua nhiều thế kỷ của lịch sử. Trong đất nước đa nguyên, đa văn hóa này, những người ưu tú của nước Mỹ, được đa số mến mộ do tinh thần cởi mở và cấp tiến. Quốc gia các bạn luôn đánh giá cao tinh thần lãnh đạo, sự toàn mỹ và khả năng sáng tạo.

Những lý tưởng và đặc điểm trên của Hoa Kỳ cung cấp một sự phù hợp tốt và thích ứng với những giáo lý của Đức Sư Tổ Dasira Narada, và cho sự phát triển của trung tâm VDPHT ở đây, ở Bắc Mỹ. Sự kiện này tạo điều kiện tốt cho mối liên hệ giữa các tổ chức đang phát triển của chúng tôi, và những cộng đồng chúng tôi phục vụ trong Bắc Mỹ nói riêng, và toàn cầu nói chung.

Một trong những ưu điểm đặc biệt làm cho VDPHT thích hợp với mọi người đó là sự phổ quát, và khả năng tiếp cận của nó. Bất cứ ai, không phân biệt giới tính, tầng lớp, chủng tộc, trình độ văn hóa, tôn giáo... đều có thể tham gia theo học lớp sơ cấp VDPHT. Dù giàu hay nghèo mà có tâm hướng thượng, có duyên lành với Tổ đều có thể học pháp Tổ dưới sự hướng dẫn của Thầy Cô. Các lớp học đều miễn phí, được tổ chức trong tinh thần thiện nguyện. Bất cứ ai có tâm tu học; họ có thể là Phật Tử thuần thành, thuộc Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo, hay người Do Thái... đều có thể thích ứng với pháp môn VDPHT. Các lớp học được tổ chức bởi các thiện nguyện viên có tâm hồn vị tha rộng lượng. Tất cả các môn sinh chúng tôi luôn luôn hăng hái dốc toàn tâm sức và vật chất, để hổ trợ các học viên mới, cũng như chúng tôi đã từng được giúp đỡ, và sẽ luôn luôn được giúp đỡ trong quá trình tu học hành thiền. Thật là một điều cao đẹp và huyền diệu khi mình nhận, cũng như khi mình cho và trợ giúp người khác, đúng nơi đúng lúc khi chúng ta cần nó. Tất cả chúng ta đều được lợi ích trên nhiều phương diện trong quá trình liên đới cho và nhận này.

Pháp Môn VDPHT ưu việt và duy nhất bởi vì những lời dạy của Sư Tổ Dasira Narada hàm chứa những nguyên lý sâu sắc, toàn diện và đương niệm. VDPHT cống hiến một kỹ thuật năng lượng trị liệu tinh vi trong công việc trị bịnh, loại bỏ bịnh tật, cũng như tăng cường và bảo vệ sức khỏe, ngay cả cho những ai đang mỏi mòn lão hóa, trong đời sống bon chen đầy áp lực ngày nay. Phương pháp của VDPHT hoàn toàn sáng tạo và thực tiễn. Chính bản thân tôi, trong suốt 23 năm hành nghề bác sĩ y khoa, chưa từng gặp hay trải nghiệm sự kỳ diệu tầm cỡ này. Tôi cũng đã từng nghiên cứu về các hệ thống trị liệu cổ điển, nhưng chưa từng thấy một phương pháp nào có thể so sánh bằng, ngay như cả các hệ thống Tân Y Khoa Năng Lượng ngày nay (Newer System of Energy Medicine). Điều gì làm cho VDPHT vi diệu và thu hút như vậy? Đó là Pháp Tổ, với sự giảng dạy của Thầy Cô, đã cho chúng ta quán triệt được căn nguyên của bịnh hoạn. Chỉ từ nguồn gốc sâu thẳm ấy chúng ta mới có thể tìm ra phương thức trị liệu hữu hiệu tuyệt đối. Kết quả thật là kỳ diệu, mãnh liệt, ngoài dự đoán. Điều này, bác sĩ Comlan từ Montreal, người sắp sửa phát biểu cảm tưởng, đã từng chia sẽ với tôi một cách ngạc nhiên và khâm phục. Cùng với các môn sinh ở thiền đường, chúng tôi đã chứng kiến nhiều kết quả khả quan trong việc chữa trị, trong đó bao gồm những người mang chứng ung thư.

Đặc điểm quan trọng và thuần nhất của pháp môn VDPHT, là giúp cho chúng ta thăng tiến tâm linh, và có một đời sống lành mạnh. Phát triển tình yêu thương vị tha giữa người với người, và phục vụ cho sự ích lợi nhân loại là tôn chỉ của pháp môn, là nền tảng cột trụ của sự tu học. Môn sinh VDPHT thực hiện đời đạo song tu, điều này hàm ý tu không có nghĩa là phải cách li ra khỏi xã hội và đời sống bình thường của con người. Thực tế, chúng tôi hăng say tham gia hành thiện làm công dân tốt, giúp đỡ người hữu duyên ở địa phương, trong nước, và toàn cầu. Lúc vừa rồi Thầy Thuận và Cô Hải đã giảng thuyết về một số khía cạnh tâm linh then chốt của hành trình tiến hóa. Thầy Cô thể hiện một tấm gương trong sáng nhất, Người đã cống hiến trọn cuộc đời mình, tất cả thời gian, nguồn lực, tâm huyết, để truyền giảng tinh hoa pháp Tổ cho mỗi môn sinh, giúp chúng tôi tiến hóa tâm linh, và giúp phát triển thiền đường khắp mọi nơi. Thầy Cô là người duy nhất đại diện Sư Tổ phản ánh chân thật pháp thiêng của Ngài. Thầy Cô truyền đạt pháp một cách tinh tế về từng cỏi giới tâm linh (the many layers of spiritual meaning). Bản thân tôi cũng như toàn thể môn sinh đều cảm thấy hãnh diện được làm đệ tử của Thầy Cô.

Để tỏ lòng tôn kính tri ơn Thầy Cô, những người môn sinh chúng ta hãy cố gắng nổ lực tu học tinh tấn, làm việc với nhau trong tình nhân ái hài hòa. Cùng nhau, chúng ta xây dựng nền tảng cơ sở vững chắc cho pháp môn, ngỏ hầu giúp đem ánh sáng chân lý Tổ đến cho nhân loại. Một tương lai trong sáng và nhiều công việc đang chờ đón chúng ta hoàn thành. Chúng ta cần phải rèn luyện làm môn sinh tốt, có tinh thần trách nhiệm và lãnh đạo trong thiền đường. Chúng ta phải duy trì công việc phiên dịch pháp Tổ ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, cũng như phát triển thành viên thông dịch. Chúng ta cần có đủ điều kiện vật chất, và tài chánh để xây dựng thiền đường, mà không phải thuê mướn. Chúng ta cần phải phát triển quan hệ tốt với chính phủ, và các tổ chức xã hội trong cộng đồng địa phương. Tin tưởng rằng những việc làm trên sẽ hóa giải nổi khổ đau của người khác cũng như của chính mình. Trên con đường tu học tâm linh để tiến hóa, chúng ta phải duy trì niềm tin vững chắc vào một tương lai lâu dài, do đó chúng ta cần phải hướng tâm, định trí vào những chuyển biến tốt đẹp ngay ở trong tâm mình. Chỉ khi nào chúng ta thực hiện được những công việc nói trên, chúng ta mới thật sự hoàn thành sứ mạng truyền đạt chân lý vi diệu thiêng liêng của Tổ đến cho đời, để dần dần thế giới này biến chuyển thành nơi an lành hạnh phúc thật sự.

Chúng tôi chân thành cảm tạ những quan khách đại biểu cho chính phủ, đã đến đây hoan nghinh những công việc mà Thầy Cô của chúng tôi đã thực hiện. Thầy Cô là người đại diện chân chính cho Sư Tổ Dasira Narada và chân lý của Ngài. Chúng tôi vui mừng hoan nghinh các môn sinh VDPHT ở California. Các anh chị đang thật sự xây dựng nền móng quan trọng, từ đó bảo vệ pháp Tổ cho nhiều thế hệ tương lai. Cùng với bạn trong gia đình VDPHT, chúng tôi cảm kích sâu xa những gì các bạn đang làm.

Chân thành cám ơn rất nhiều và nhiều nhiều lắm.

NS.21_Thuong goi Seattle tu Ottawa

NS.21_Thuong goi Seattle tu Ottawa

Thương Gởi Seattle Từ Ottawa
Môn sinh Lisa Diệu - Thiền Đường Ottawa

Kính gởi Thầy Thuận, Cô Hải, anh Điệp và các bạn đồng môn Thiền Đường Seattle.

Nhân ngày kỷ niệm 5 năm thành lập TĐ Ottawa vào hồi tháng 6 năm 2010, chúng tôi có đệ trình với hai vị ân sư kính thương một biểu tượng nhỏ, để nói lên sự kính mến và lòng tri ơn sâu sắc nhất của chúng tôi, về những sự hy sinh cao cả vô biên mà Thầy Cô đang dìu dắt tất cả môn sinh trên con đường tu học tâm linh. Hôm nay chúng tôi rất hạnh phúc gởi đến Seattle món quà nhỏ này, để tỏ lòng tôn kính Đức Sư Tổ Dasira, lòng tri ân và kính thương của chúng tôi đối với Thầy Thuận và Cô Hải, hai người đại diện chân chính duy nhất của Ngài. Bức tranh này xin đặc biệt mến tặng các bạn đồng môn TĐ Seattle.

Trong ngày lễ kỷ niệm, Thiền Đường tương đối non trẻ chúng tôi đã trân trọng vinh danh những công đức vô giá mà các môn sinh TĐ Seattle đã cống hiến, trong công việc xây dựng một ngôi nhà tâm linh cho mọi người tu học ở Bắc Mỹ. Nương theo huấn từ của Sư Tổ và hạnh nguyện của Thầy Cô, các môn sinh TĐ Seattle đã tiếp đón, nuôi dưỡng và hỗ trợ tất cả thành viên trong đại gia đình VDPHT. Mỗi năm rồi lại mỗi năm, chúng tôi lại có dịp qui tụ về Seattle để được Thầy Cô giảng dạy tu học tâm linh.

Mỗi khi môn sinh đi thụ huấn Cấp 4 trở về trung tâm Ottawa từ Seattle, chúng tôi luôn luôn yêu cầu họ kể lại những kinh nghiệm mà họ đã học được. Lúc nào cũng vậy, mẫu chuyện của chúng tôi bắt đầu bằng những cảm xúc và ấn tượng sâu sắc về những ân tình mà các thành viên TĐ Seattle đã dành cho họ. Mặc dù chúng tôi rất hồi hộp khi bước ra khỏi máy bay lần đầu tiên tại sân bay Seattle, đôi khi sau cuộc hành trình rất dài, nhưng tất cả chúng tôi luôn ghi nhớ sự chào đón hân hoan và những nụ cười thâm tình trên khuôn mặt của các bạn ở TĐ Seattle. Chúng tôi ghi nhớ các hành động nhẹ nhàng cẩn thận khi các bạn giúp chúng tôi chuyển chất hành lý lên xe.

Các bạn môn sinh Seattle đưa chúng tôi về nhà Thầy Cô kính thương và đó cũng là Thiền Đường Trung Ương Seattle . Ấn tượng đầu tiên thường ghi khắc trong tâm mãi mãi. Không ai trong chúng tôi có thể quên đi cái cảm xúc đầu tiên khi được các bạn, anh Điệp và Thầy Cô đón nhận. Đặc biệt nhất là cái cảm giác bồi hồi khi chúng tôi đến bàn thờ Tổ. Trong Thiền Đường Seattle, tất cả chúng tôi đều cảm nhận sự hiện diện của một nguồn từ lực rất mạnh, thanh khiết và thiêng liêng ngay cả khi chúng tôi đi bộ xung quanh sảnh đường.

Các môn sinh TĐ Seattle đã đi sâu vào tâm khảm của chúng tôi qua từng hạnh nguyện, lời khuyên, và sự lắng nghe chứa chan những cảm thông của các bạn; qua từng lời thông dịch và giải thích, qua từng bửa ăn, chén canh, tách trà dưới bóng cây cổ thụ dọc theo lối xe; qua từng chuyến xe đưa đón giữa TĐ và khách sạn từ sáng sớm đến tối khuya. Các bạn chăm sóc chúng tôi từng chi tiết nhỏ không gì thiếu sót. Chúng tôi thật cảm kích. Các bạn luôn cho chúng tôi sự thoải mái với tất cả chân tình, niềm nở, chăm lo. Các bạn thể hiện tình thương qua hành động. Các bạn đang thể nghiệm giáo huấn Tổ, làm cho những môn sinh trẻ chúng tôi cảm nhận rằng, chính sự tu tiến tâm linh được thành công của chúng tôi, là điều quan trọng đối với các bạn. Chính các hành động cao quý vô bờ bến của các bạn đã cho chúng tôi một nhân sinh quan mới về tình thương đại đồng, mà từ đó chân trời mới đã mở rộng ra trong thời gian chúng tôi thọ giáo Pháp Tổ qua sự giảng dạy của Thầy Cô.

Thế rồi chúng tôi trở lại Seattle thụ huấn cấp 5, cấp 6... mối quan hệ giữa chúng ta mỗi ngày một tăng cường, sâu đậm hơn. Bạn là người bạn mới của chúng tôi, là anh chị em tinh thần của chúng tôi. Mỗi thành viên chúng ta là cái Nhất Thể của một Tổng Thể, của một Đại Gia Đình Tâm Linh. Cũng từ đó chúng tôi noi theo hạnh nguyện của các bạn để trở thành quyến thuộc của các bạn. Từng bước, chúng tôi học và tập làm theo các bạn, để trao lại những gì các bạn đã cho chúng tôi sang cho người khác. Các bạn thân mến, môn sinh TĐ Seattle là những tấm gương sáng, là điển hình cao quý nhất. Chúng tôi tri ân Thầy Thuận, Cô Hải, và các thành viên TĐ Seattle.

Bức tranh này diễn tả ý nghĩa "Về Nhà – Going Home". Mỹ thuật chụp hình thức một số tính năng thiết yếu của thế giới tự nhiên, và một cái gì đó cơ bản về kinh nghiệm sống của con người. Khi chúng ta nhìn vào hình ảnh này một cách cẩn thận, chúng ta thấy rằng nó phản ảnh huấn từ Tổ mà Thầy và Cô đã giảng dạy cho chúng ta. Thế giới xung quanh chúng ta và trong chúng ta đầy đủ nhiều loại bóng tối. Chúng ta phải đi ngược dòng lên thượng nguồn để về nhà. Trên con đường phản bổn hồi nguyên trở về Ánh Sáng, chúng ta đều gặp phải khó khăn nghịch cảnh, trong chính chúng ta, và ngay tại các Thiền Đường. Chúng ta cần ánh sáng thuần khiết nhất từ Pháp của Sư Tổ và hai vị ân sư, Thầy Thuận và Cô Hải, để phá tan đi bóng tối và soi sáng trên con đường trở về nguồn cội. Chúng ta đã nhận thức rằng thế giới đầy đau khổ, có nhiều nghịch cảnh, và khó khăn luôn lũy tiến theo thời gian. Chúng ta phải tu dưỡng bản thân cũng như xây dựng pháp môn một cách hài hòa và kỷ luật để vượt qua nhiều khó khăn đang chờ đón phía trước, biết rằng nó là một phần cần thiết của qui luật tiến hóa.

Cám ơn Thầy Thuận và Cô Hải về những ân điển mà Thầy Cô luôn luôn cho các môn sinh. Chúng tôi nguyện sinh hoạt và cùng nhau tu học trong tình nhân ái hài hoà, mà Thầy Cô luôn luôn dạy bảo và nhắc nhở. Chúng tôi sẽ luôn trung thành với Thầy Cô và Trung Tâm Seattle, Thiền Đường Mẹ Hiền luôn luôn sẵn sàng trợ giúp các Thiền Đường, khi các TĐ phát triển khả quan cũng như khi các TĐ gặp phải khó khăn khảo đảo. Chúng tôi nguyện phát tâm phụng sự, bồi đắp lòng vi tha cho nhân loại, như Thầy Cô đã-đang-và-sẽ luôn luôn thương yêu hướng dẫn chúng tôi.

Cám ơn rất nhiều và nhiều lắm, với tất cả niềm mến thương, hâm mộ, trung kiên, tự đáy lòng của toàn thể môn sinh TĐ Ottawa.

NS.22_Chuc mung dau Xuan

NS.22_Chuc mung dau Xuan

CHÚC MỪNG ĐẦU XUÂN
Môn sinh Lâm Sơn (TĐ Rosemead)
Mùa xuân năm 2011

Nhân dịp xuân về, thân mến xin được gởi đến các đồng môn một năm mới an khang , tinh tấn trên bước đường tu học pháp Tổ.

Chúc tất cả gặt hái thêm nhiều thành quả công đức. Tích lũy cho đạo nghiệp thêm dầy, thêm vững chắc. Cùng nhau phát huy Pháp Môn làm rạng danh Sư Tổ.

Mong sao cho ánh sáng từ bi của Ngài luôn ngự trị trong mỗi chúng ta. Và chỉ khi hướng thượng, phục vụ tha nhân, quay về nội tâm ta mới nhận được ánh sáng này.

Những bài Pháp mà chúng ta học được từ Sư Phụ là sự chuyển hóa của ánh sáng từ bi. Ánh sáng từ bi của Tổ là chân lý, là bình đẳng là hòa đồng, không có đối đãi, không có thiện ác, không có đúng sai, không có giả cũng không có thật thì làm gì có điều gọi là sự thật trong ánh sáng. Hãy giữ ánh sáng từ bi của Ngài làm ngọn đuốc soi sang trên con đường tu học phụng sự. Tu là sửa, tu là chỉnh đốn, tu là phải chấp nhận hy sinh để phụng sự, tạo niềm vui, hạnh phúc cho mình và cho mọi người.

Để đón mừng năm mới, xứng đáng với tình yêu thương của Tổ của Thầy Cô, chúng ta phải luôn ghi nhớ để thực hành những bài pháp vô giá của Tổ qua lời giảng dạy của thầy cô cho anh em chúng ta. Những bài pháp này là những hồi chuông ngân nga, nhắc nhỡ cho chúng ta để đối trị lại muôn vàng biến động xảy ra trong cuộc sống hằng ngày và hằng giờ trong thiền định.

Là đệ tử của Tổ quyết không bao giờ quên ơn Tổ, quên ơn Cô Thầỵ

NS.23_Chuc mung nam moi

NS.23_Chuc mung nam moi

CHÚC MỪNG NĂM MỚI
Môn Sinh Susan Luong (TĐ Seattle)
Tháng 02 năm 2011

Thân gởi các bạn đồng môn của các Thiền Đường Vi Diệu Pháp Hành Thiền

Nhân dịp Xuân đến, toàn thể môn sinh Thiền Đường Seattle thân ái gởi đến các bạn đồng môn trên toàn thế giới những lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Nguyện cầu Đức Sư Tổ Dasira Narada gia hộ cho các bạn và gia quyến được nhiều hạnh phúc, bình an, sức khỏe, và gặt hái nhiều thành công trên con đường tu học tiến hóa tâm linh.

Bước sang năm mới là dịp tốt để chúng ta phản ánh lại “đức tánh tình thương" mà Sư Tổ đã dạy chúng ta bởi vì tình thương là nền tảng của Pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền. Chúng ta đã nghe Thầy Cô giảng dạy về “đức tánh tình thương". Điều quan trọng là chúng ta phải thấu hiểu "tình thương" là gì. Và điều quan trọng hơn nữa là chúng ta phải cố gắng thể hiện "tình thương" qua các hành vi hằng ngày một cách thiết thực.

Năm mới cũng là dịp tốt để chúng ta hồi tưởng lại những gì chúng ta đã làm, trong năm vừa qua và cả những năm trước đó nữa, trong hạnh nguyện gầy dựng và vun bồi “đức tánh tình thương". Trong lúc tư duy, chúng ta nên chú trọng đến những điều sau đây:

1) Những gì xảy ra trong năm qua, đã ảnh hưởng đến "tình thương" của chúng ta cho thân nhân, bạn bè, và người xung quanh?

2) Đối với những gì đã xảy ra, mình nên làm hay nên tránh làm những điều gì, để cho "tình thương" của mình phản ánh lời Tổ dạy?

3) Bắt đầu từ bây giờ và cho tương lai, mình nên làm gì, để chia sẽ và bồi đắp "tình thương" cho nhân loại như lời Tổ dạy?

Trước hết chúng ta phải sáng suốt để nhận ra những lỗi lầm của mình, ngõ hầu tu chỉnh để mà tiến hoá. Nếu muốn tu tiến tâm linh, chúng ta phải luôn luôn tự phê, tự kiểm về những hành vi của mình, đã gây ảnh hưởng không tốt cho thân nhân, bạn bè, và những người xung quanh. Trong lúc tự kiểm, chúng ta sẽ nhận ra những lời nói và việc làm của mình, thật ra thiếu "tình thương" hay đi ngược lại bản chất của "tình thương", một đức tính quan trọng mà mỗi môn sinh VDPHT nhất định phải có. Trong lúc tư duy, ta nên chú trọng đến các hành động và phát biểu của chính mình. Chúng ta không nên chê trách người khác và nghĩ rằng họ phải làm thế này hay thế kia. Trên con đường tu học của mình, mình chỉ có thể tự chỉnh sửa những suy nghĩ và hành động của chính mình, bởi vì chỉ có mình, mới điều khiển được tư duy và hành động của chính mình. Chúng ta không thể thay đổi ý nghĩ và hành động của người khác, bởi vì việc này ngoài khả năng của chúng ta. Nếu muốn tinh tấn trên con đường tu học, mình không nên đổ lỗi cho người khác về những sai lầm của chính mình. Dầu cho người khác có nói hay làm gì đi nữa, nếu mình cho họ sai tức là mình đã sai. Sư Tổ dạy rằng, điều quan trọng đối với người tu là phải nhận ra được sự sai trái của mình, bởi vì chúng ta không thể sửa khi chúng ta không biết là mình sai.

Kế đến, một khi chúng ta nhận biết những sai trái của mình rồi, thì chúng ta phải có trí tuệ của người môn sinh VDPHT, để tìm hiểu xem mình nên làm gì hay không nên làm gì trong những tình huống đó, để thể hiện "tình thương" mà Sư Tổ đã dạy mình. Trên hành trình tiến hoá, mình nên quan tâm đến những điều mình nói hay làm để cho người khác thật sự cảm nhận được "tình thương" mà mình cho họ. Mặc dầu chúng ta vẫn còn tu học, vẫn bị chi phối bởi thế gian vô thường, đừng để cho lời nói việc làm của mình vướng vào tham-sân-si hay tư lợi cá nhân. Ngược lại, lời nói và hành động của mình phải dựa trên căn bản của từ bi, vị tha và tâm mong cầu cho hạnh phúc đại đồng. Nếu làm được điều này, chúng ta sẽ có được một "tình thương" cao thượng. Đó là nền tảng của môn sinh VDPHT và đó cũng là nền tảng để xây dựng một thế giới an lành và hoà hợp cho toàn thể nhân loại.

Sau cùng, một khi chúng ta đã xác định những gì chúng ta nên nói hay làm trong những tình huống đó rồi, thì chúng ta, những người môn sinh VDPHT, phải vận dụng trí tuệ để nghiên cứu những kinh nghiệm trong quá khứ, ngõ hầu trong tương lai, lời nói hay việc làm của mình luôn thể hiện "tình thương" cho nhân loại một cách chân thật và đậm đà. Trên hành trình tiến hoá, chúng ta nên áp dụng những căn bản của "tình thương" không những trong Thiền Đường mà luôn cả ngoài xã hội. Mỗi ngày chỉ có 24 giờ, chúng ta nên sáng suốt trân quí thời gian chúng ta dành cho Thiền đường. Vì nhiều người trong chúng ta dành phần lớn thì giờ của mình ở thế giới bên ngoài, nên chúng ta phải nhớ áp dụng những căn bản "tình thương" này luôn cả ngoài xã hội. Nên nhớ rằng dù cho chúng ta có thực hiện những căn bản của "tình thương" này bên trong Thiền Đường, mà chúng ta lơ là với việc ngoài xã hội thì công đức của chúng ta cũng giảm đi và sẽ tan biến luôn. Chỉ khi nào chúng ta làm được những điều trên, chúng ta mới thật sự có "tình thương vị tha" cho nhân loại, đúng theo lời Tổ dạy. Chỉ khi nào chúng ta làm được những điều trên, chúng ta mới thăng tiến trên hành trình tiến hoá tâm linh.

Toàn thể môn sinh Thiền Đường Seattle xin gởi đến các bạn đồng môn trên khắp hoàn vũ thật nhiều “tình thương” và những lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Mong gặp các bạn tại Seattle trong một ngày gần đây.

Chào thân thương

NS.24_Cam nghi ve Lop Cap 6 nam 2011

NS.24_Cam nghi ve Lop Cap 6 nam 2011

CẢM NGHĨ VỀ LỚP CẤP 6 NĂM 2011
Môn sinh Susan Luong (TĐ Seattle)

Khi nghe tên tôi trong danh sách học sinh của lớp cấp 6, tôi vừa mừng, vừa lo sợ. Tôi mừng là bởi vì đây là một cơ hội tốt để tôi học hỏi thêm và tiến tu trên con đường tâm linh. Tôi lo sợ là bởi vì có lẽ tôi sẽ phải đương đầu với những thử thách giống như khi tôi học lớp cấp 4 và cấp 5.

Trong thời gian chuẩn bị học lớp cấp 4 vào tháng 4 năm 2007, tôi phải đi Hong Kong để dự một đám cưới trong gia đình. Khi ở Hong Kong, miệng của tôi tự nhiên bị cứng làm cho tôi không thể nuốt được. Vì vậy, tôi đã không thể ăn uống bình thường được trong nhiều ngày. Khó khăn lắm tôi mới có thể nuốt được một vài miếng thức ăn và uống ̣̣được vài ngụm nước. Lúc đó, tôi cảm thấy rất sợ hải và bất lực. Nếu như gia đình và bạn bè tôi không cùng đi với tôi đến Hong Kong thì tôi đã bỏ về lại Seattle ngay lập tức. Sau khi dự đám cưới xong, khi chuyến bay về lại Seattle của tôi vừa đáp xuống sân bay, thay vì đi về nhà thì tôi đã đi ngay đến thiền đường.

Vào tháng 5 năm 2009, tôi học lớp cấp 5. Thời gian chuẩn bị cho lớp học này trải qua một cách suông sẽ cho tới tối thứ năm trước ngày học. Tôi nhớ rất rõ là lúc đó tôi đang ở trên giường chuẩn bị ngủ thì tự nhiên cổ họng của tôi trở nên ngứa và tôi đã không thể nào ngừng ho. Chuyện này rất là lạ tại vì tôi không hề bị cảm hoặc ho từ khi tôi học lớp cấp 3 vào năm 2004, ngoại trừ trong một chuyến đi đến Montreal vào mùa đông 2007 và nhiệt độ lúc đó là 20 độ âm. Trong suốt mấy ngày học lớp cấp 5, tôi ho rất nhiều và người tôi rất mệt mỏi. Một điều may mắn là, nhờ sự phù hộ của Đức Sư Tổ Dasira Narada, tôi không ho một lần nào trong lúc thiền ngày thứ sáu, thứ bảy, và trong 4 tiếng đồng hồ và 45 phút mở luân xa ngày chủ nhật.

Mặc dù tôi đã gặp những thử thách, nhưng tôi đã quyết tâm học xong những lớp học dù có khó khăn đến đâu. Tôi cảm thấy rất vui mừng và hân hạnh sau khi hoàn tất lớp cấp 6 vào tháng 5 năm 2011. Tôi tạ ơn Đức Sư Tổ Dasira Narada đã sáng lập ra pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền để ban tặng cho tất cả mọi người trên thế giới nói chung và cho riêng bản thân tôi. Tôi tạ ơn Thầy Thuận và Cô Hải đã thương yêu và hướng dẫn chúng ta trong việc phát triển tâm linh để tiến hóa. Tôi cảm ơn tất cả môn sinh của thiền đường Seattle vì sự thương yêu và hổ trợ của họ ̣đã làm cho lớp cấp 6 thành công và đáng ghi nhớ.

Tôi đến với thiền đường Seattle từ năm 2004. Bảy năm vừa qua đã thay đổi cuộc đời tôi một cách lớn lao, không chỉ về thể xác, tinh thần, mà cả tâm linh. Khi học lớp cấp 6, tôi có cơ hội học thêm về việc chúng ta đến từ đâu, tại sao chúng ta ở đây, và chúng ta sẽ đi đâu từ đây. Từ khi tôi được 13 tuổi, những câu hỏi này đã nảy lên trong tâm trí tôi. Từ đó, có nhiều đêm tôi không ngủ được khi nghĩ đến những câu hỏi này. Tôi không sợ là tôi sẽ chết như thế nào hoặc khi nào tôi sẽ chết. Tôi lo lắng nhất đến việc tôi sẽ đi đâu hay cái gì sẽ xảy đến với tôi sau khi tôi chết. Cũng chính vì những suy nghĩ này mà tôi đã đi đến nhà thờ và chùa trong nhiều năm, nhưng việc này cũng không giúp được gì cho tôi. Tôi cũng đã tìm đến những bác sĩ tâm lý bởi lúc đó tôi không biết rằng suy nghĩ như vậy là bình thường. Bây giờ thì tôi đã hiểu tại sao.

Tôi có duyên để học về pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền vào năm 2004, và từ đó tôi đến thiền đường hầu như là mỗi ngày, trừ khi phải đi xa. Thiền đường này cho tôi sự hỗ trợ và hướng dẫn về thể xác, tinh thần, và tâm linh. Vì pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền đã giúp tôi rất nhiều, tôi hy vọng nhiều người trên thế giới biết về pháp môn này. Bắt đầu từ năm 2007, tôi quyết định đi đến những thiền đường khác trên thế giới để hành pháp. Từ đó, tôi đã đi thăm được một số thiền đường, nhưng tôi mong rằng sẽ đến nhiều thiền đường hơn. Chuyến đi thăm thiền đường đầu tiên của tôi là đến Hong Kong vào tháng 2 năm 2007. Lúc đó tôi không biết, nhưng sau đó tôi nhận ra rằng Đức Sư Tổ Dasira Narada đã sắp đặt chuyện tình duyên cho tôi trong chuyến đi đó.

Từ khi học xong lớp cấp 5, tôi đã quyết định sau vài năm sẽ nghỉ làm việc hoặc chỉ làm ít giờ để cống hiến nhiều thời gian hơn trong việc giúp đỡ người khác. Sau khi học lớp cấp 6, cái quyết định đó lại càng chắc chắn hơn. Như Thầy Thuận và Cô Hải đã dạy chúng ta trong lớp, chúng ta không còn nhiều thời gian nữa và vì thế mà, trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại, chúng ta phải cố gắng hết sức mình theo đúng pháp của Sư Tổ Dasira Narada để được điểm đạo để trở về nhà.

NS.25_Nhung chia se tu TD Orange County

NS.25_Nhung chia se tu TD Orange County

NHỮNG CHIA SẼ TỪ THIỀN ĐƯỜNG ORANGE COUNTY
Môn sinh Khưu Thái
California 02/02/2011

Nhân dịp năm mới, toàn thể môn sinh của Thiền Đường Orange County xin kính chúc quý đồng môn một năm mới an khang thịnh vượng, tu học tin tấn, bền chí, vững lòng giữ trọn niềm tin.

Trên con đường tu học, đức tin của ta không phải là do ai đó cưỡng ép hoặc ban phát; Đức tin được hình thành sau một thời gian trải nghiệm để rồi tự ta có, chứ không phải tự nó tìm đến ta. Vào dịp sinh nhựt Đức Sư Tổ năm 2006, Thầy Cô dạy : "Quý vị phải luôn thiền định, tu tập, cống hiến, dấn thân phục vụ cho tha nhân, dần dần sẽ sáng tỏ thiên cơ đạo lý, lấy tư tưởng hiểu rỏ thiên cơ, hành theo đạo lý. Chính lúc này đức tin thực sự thành hình, chứ không phải chúng ta trông cậy vào một năng lực nào đó từ bên ngoài ban phát". "Tu học hay làm việc gì cũng phải có đức tin, nếu không có đức tin, cũng như nấu cơm, bắc lên lò rồi lại mang xuống, cơm không bao giờ chín mà chỉ sình lên thôi". Khi tu mà thiếu đức tin, ta chỉ hăng hái lúc ban đầu rồi lần hồi ngã lòng, nản chí, không có đức tính phân biệt, dễ bị bàng môn tà đạo gạt gẫm, dắt vào đường tà làm trí tuệ mê mờ, gẫy đổ đường tu; thật uổng một kiếp làm người.

Qua những bài giảng của Thầy Cô, chúng ta được chỉ dẩn : Sau khi khai mỡ luân xa, nếu trong lúc thiền định, tâm ta hướng thượng, luân xa sẽ thu nhận được những tần số của các đấng thiêng liêng, thì lúc đó lực tổ rót xuống; Ngược lại, nếu tâm ta còn sân hận, ích kỹ, tham lam " Đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu", chỉ có tà ma trược khí vào trong dẫn dắt mình mà thôi; Chính vì vậy, càng tu càng hoang mang, không biết đâu là thật, giả.

Giá trị vô biên của chúng ta nhận được từ Thầy Cô là sự chỉ dạy phải tu học như thế nào để diệt khổ hầu tiến tới giải thoát; Phải sáng suốt hướng tâm tìm đường giải thoát. Khi đã chọn được hướng đi đúng, phải cương quyết hành trì và vượt qua mọi chướng duyên thử thách. Ráng quay vào trong sống với nội tâm của mình để tìm nguồn an lạc, trao dồi hạnh kiểm cho phần hồn được sáng suốt. Đúng, sai, khổ đau, hạnh phúc đều do mình và cũng chính mình nắm giữ tương lai của mình, chứ đâu cần phải lăng xăng " Tìm kiếm để đến gần sự thật". Bởi vì, mọi thứ trong cuộc đòi này đều là vô thường, là giả. Cái thực mà ai đó đang tìm, nó ở ngay trong tâm mình, chứ chẳng ở nơi nào khác.

Thầy Cô luôn dạy chớ nên dửng dưng với việc chung, đến Thiền Đường cho có lệ. Phụng sự tha nhân đâu có phụ thuộc vào cấp cao hay thấp, hay kẻ đến trước người tới sau. Điều quan trọng là sau khi thọ cấp, phải tiếp tục học hỏi, trao dồi hạnh kiểm, biết được thiên cơ đạo lý để hành pháp cho đúng, bởi vì : Mục tiêu của người tu không phải là vì mình mà vì mọi loài, đó là hạnh nguyện Bồ Tát".

Toàn thể môn sinh của Thiền Đường Orange County xin ở đây bày tỏ tâm tư và xin kính chúc quý đồng môn tu học tin tấn hầu theo kịp đà tiến hóa của Thầy Cô và Pháp Môn.

NS.26_Phat bieu ky niem 14 nam cua VDPHT, California

NS.26_Phat bieu ky niem 14 nam cua VDPHT, California

PHÁT BIỂU KỶ NIỆM 14 NĂM CỦA VDPHT, CALIFORNIA
Môn Sinh BUNKORN
Thiền Đường Montreal 2 Canada

Kính thưa Đức Sư Tổ Dasira Narada, kính thưa Đê Nhị Sư Tổ Narada Mahathera, kính thưa Thầy Cô Chưởng môn, kính chào Quý vị đồng môn UHBE,

Hôm nay chúng ta cùng nhau từ khắp mọi nơi trên thế giới đến đây kỷ niệm 14 năm thành lập pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền.

Cách đây hơn 100 năm, VDPHT được khai sáng bởi Đức Sư Tổ Dasira Narada, Vị Tổ vĩ đại, bằng công sức của 18 năm dài thiền định trên đỉnh núi cao của dãy Hi Mã Lạp Sơn đã để lại cho nhân loại. Nhị Tổ, Vị Tổ thứ hai là một sứ giả Phật giáo du lịch rất nhiều nơi trong nhiều nước ở Đông Nam Á, đã có duyên lành lớn với người Việt Nam. Ông coi Việt Nam là quê hương thứ hai của mình. Hơn thế nữa, trong chuyến đi cuối cùng của ông đến Việt Nam năm 1972, lần đầu tiên ông mật truyền VDPHT cho 5 người Việt Nam. Trong những năm 1980 trước đây, một số người Việt Nam đã đến Mỹ, vì lợi nhuận cá nhân, đã lợi dụng danh nghĩa của Ngài Dasira Narada, và truyền bá sai lệch đường lối của Ngài. Sự kiện này đã gây ra rất nhiều nguy hại cho Pháp môn của chúng tôi.

Từ năm 1996, sau khi định cư tại Seattle, Thầy Thuận và Cô Hải, mang một sứ mệnh thiêng liêng từ Sư Tổ để phát triển VDPHT đúng hướng, đúng cách, vì lợi ích của nhân loại. Cả hai người, họ cống hiến hết cuộc đời và thời gian còn lại cho công việc phát triển VDPHT. Kể từ đó, VDPHT lớn lên tại Hoa Kỳ và ở khắp mọi nơi trên thế giới, không bao giờ dừng lại. Điễn hình, chỉ cần từ đầu năm đến nay, Thầy Cô đã thành lập thêm ít nhất 9 Thiền Đường mới được mở ra ở Mỹ, châu Á và các châu lục đại dương. Xin cảm ơn Thầy Thuận và Cô Hải đã hướng dẫn chúng tôi đúng đường, con đường hành Bồ Tát đạo. Kết quả, hôm nay chúng ta vui mừng chào đón sự việc chính phủ Hoa Kỳ tặng bằng khen ngợi về những đóng góp của pháp môn cho lợi ích của tha nhân. Đó là một vinh dự và niềm tự hào cho tất cả chúng ta.

Tôi có cơ hội tìm học VDPHT vào tháng tư năm 2007 tại thành phố Ottawa, khoảng 200 km (120 dặm) từ thành phố Montreal nơi tôi sinh sống. Nhóm Chúng tôi khoảng 40 người, đều có một số vấn đề sức khỏe khác nhau. Mỗi ngày chúng tôi phải lái xe 2 tiếng đi, 2 tiếng về. Vì vậy, khi về đến nhà, đôi khi qua khỏi nửa đêm. Một điều rất ngạc nhiên là khi thức dậy vào buổi sáng, chúng tôi đã không cảm thấy gì là mệt mỏi mặc dầu chúng tôi đi ngủ rất muộn. Sau khi kết thúc lớp học, nhóm của chúng tôi đã quyết định mở một Thiền Đường trong thành phố Montreal. Lớp học đầu tiên vào tháng 11-2007 có gần 200 người tham dự.

Trong khi giảng dạy các khóa học tại Montreal, ThầyThuận đã đề nghị mở các lớp học ở Phnom Penh, Campuchia. Thầy cho biết Campuchia là một nước nghèo mà không có hệ thống medicare như chúng tôi, do đó VDPHT sẽ mang lại cho họ sức khỏe giúp họ khỏe mạnh để đi làm kiếm sống. Vì vậy vào tháng 2 năm 2008 với sự giúp đỡ của hai mươi tình nguyện viên khác từ các Thiền Đường khác nhau, và đặc biệt là từ Thầy Thuận và Cô Hải, chúng tôi thành công đã mở được lớp học mới ở Phnom Penh, Campuchia, cũng có khoảng 200 người được tham dự, và thêm một Thiền Đường mới đã được thành lập cùng một lúc.

Vào tháng Mười Một năm 2008, chúng tôi trở lại Campuchia một lần nữa với khoảng 50 tình nguyện viên từ các Thiền Đường khác nhau để mở lớp học lần thứ hai tại Phnom Penh. Khoảng 200 người đã tham dự. Một phép lạ đã xảy ra, vào ngày thứ 6 của lớp học, một phụ nữ đã bị tàn tật hoàn toàn hơn mười năm sau một tai nạn xe máy. Vậy mà cô ta có thể đứng dậy đi bộ từ chiếc ghế của mình đến bàn thờ Tổ. Kể từ đó, cô tiếp tục đi bộ rất bình thường.

Vào tháng 9 năm 2009, chúng tôi nhận được một giấy phép từ chính phủ Campuchia, công nhận UHBE là tổ chức hành thiện độc lập, NGO (Non Government Organization) tương tự như Hội Chữ thập đỏ, OXFAM, World Vision…

Thay mặt cho dân tộc Campuchia , tôi xin cảm ơn Thầy Thuận, Cô Hải, và tất cả các tình nguyện viên từ các Thiền Đường khác nhau trên thế giới, tất cả đã ra sức, thời gian, tài chính của mình để giúp dân tộc tôi.

Xin chân thành cảm ơn bạn.

NS.27_Cam tuong sau 3 ngay Lop Cap 6

NS.27_Cam tuong sau 3 ngay Lop Cap 6

CẢM TƯỞNG SAU 3 NGÀY LỚP CẤP 6
Môn sinh Chi Nguyễn Thiền Đường Vũng Tàu

Kính thưa ĐỨC SƯ TỔ DASIRA NARA, kính thưa Thầy Cô Chưởng môn và quí vị Giảng Huấn.

Sau một tuần lễ trở về từ miền đất hứa, em gọi miền đất hứa vì mỗi lần về TĐ Trung Ương thụ huấn em đều hứa và phát nguyện rất nhiều trên con đường tu học, nhưng em vẫn chưa làm được bao nhiêu.

Xin Thầy Cô nhận đây là lời tri ân chân thành từ chân tâm của em, với một đặc ân vô giá mà Thầy Cô đã ban tặng cho một linh hồn mê muội, yếu đuối, vô minh, từ trong bóng tối dần dà từng bước dũng cảm đến được chốn ánh sáng. Đó là nhờ sự soi đường của Pháp Tổ với Đạo Lý siêu việt của Thầy Cô dẩn dắt. Sau 3 ngày hoàn tất lớp cấp 6, đối với em là một bước nhảy vọt quá xa trên con đường tu học tâm linh mà kiếp này em mơ cũng không dám nghĩ tới, đúng là một Đạo Lý xuất thế gian, một Đạo Lý sẽ thay đổi toàn diện nền văn minh của nhân loại sau này, riêng bản thân em coi Đạo Lý của Thầy Cô như là Thiên Đạo cho dù sau này em đến thế giới nào? hành tinh nào đi nữa em vẫn nương theo Đạo Lý này để Tu Học trải nghiệm và tiến hóa trên hành trình trở về cội nguồn.

Ngày mãn khóa cấp 6 là ngày mà em không bao giờ quên được trong kiếp này, một ngày đã thể hiện cái thực chất của tình thương từ chân tâm của từng môn sinh VDPHT. Thấy được sự xúc động sung sướng của Thầy Cô xiết chặt từng người đệ tử của mình trong lòng, mới thấy tình yêu thương Thầy Cô đối với học trò là vô bờ bến, em cũng muốn được trong đôi vòng tay xiết chặt ấy, nhưng với cá tánh (mít ướt của em), em sợ mình cầm lòng không đặng khóc òa lên thì khó coi lắm, nên đành đứng nhìn từ xa mà em cũng cảm nhận được niềm sung sướng và hạnh phúc vô cùng, em đã thấy được cái cốt lõi tinh túy của Pháp Môn VDPHT, đó là tình thương, dấn thân, hy sinh, phụng sự và cái chìa khóa là Pháp Tổ, Đạo Lý của Thầy Cô cộng với tâm bình đẳng và Thiền Định, điều đó là lẽ sống của bản thân người môn sinh.

Thưa quí đồng môn, Tu mà không Hành không hiểu biết thì các bạn vĩnh viễn không bao giờ được tận hưởng hết những nhiệm mầu của Pháp Tổ, những vi diệu tinh hoa trong Đạo Lý của Thầy Cô. Hai vị suốt cuộc đời hy sinh, dày công hành pháp đã tạo ra nhiều Thiền Đường Hạ Giới. Chúng ta hiện có gần 50 TĐ khắp mọi nơi trên hành tinh này và sẽ còn nhiều hơn nữa đang mọc lên. TĐ đúng là ngôi nhà Tâm Linh của các môn sinh .

Thưa các bạn, Các bạn có thấy người Tiến Sĩ nào ra trường rồi mà vẫn cứ núp dưới mái nhà trường không? Tại sao chúng ta cứ núp dưới mái trường TÂM LINH để hưởng phước vậy? Các bạn có bao giờ tự hỏi mình, ta là ai? Tu Pháp Tổ để làm gì? Học ĐẠO LÝ của THẦY CÔ để làm chi ?

Ngày nay Pháp Môn VDPHT đang tiến nhanh sang một trang sử mới. Từ đó không còn một nơi nào trên hành tinh này mà không chấp nhận pháp Tổ, mà còn chấp nhận một cách mãnh liệt nhất là ở quê nhà Việt Nam, nơi mà thật sự đang cấn những đôi tay đã ra trường lâu năm của các bạn.Tôi còn nhớ ngày tôi ra đi xây dựng Đạo Nghiệp chỉ có 1 tập tài liệu và CD cấp 1&2 của thầy Thuận và CD sáu bài pháp của cô Hải, cho đến bây giờ tôi vẩn còn nghiền ngẫm cái CD sáu bài pháp mỗi ngày vì tất cả những chân lý này là chân lý sống và những tiên tri này cũng là tiên tri sống mà tất cả đang hiện ra mỗi ngày khắp mọi nơi trên hành tinh của chúng ta nhất là ở Việt Nam đang tác động rất mạnh. Không thể chờ được nữa, không còn kịp nữa.

Xin kính chào tất cả và cầu chúc cho tất cả Môn Sinh VDPHT luôn an lạc trong vòng tay của Thầy Cô như ngày mãn khoá cấp 6 ngày 29/05/2011 và luôn được sự gia trì của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA.

NS.28_Loi phat bieu cua Bac si Comlan Amouzo

NS.28_Loi phat bieu cua Bac si Comlan Amouzo

LỜI PHÁT BIỂU CỦA BÁC SĨ COMLAN AMOUZO
Thiền Đường Montreal 2 Canada

Kính thưa Thầy Cô Chương môn, kính chào các thành viên của hiệp hội UHBE và kính chào các quan khách,

Thật là một vinh dự cho tôi được tham gia buổi đại hội này. Tôi muốn nhân cơ hội này để cảm ơn Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải và cảm ơn TĐ Orange County, cùng tất cả các tình nguyện viên trong việc tổ chức buổi lể tuyệt vời này.

Khi được ban tổ chức yêu cầu cho một bài phát biểu, tôi tự hỏi mình: "Oh Thiên Chúa của tôi, tôi sẽ nói những gì bây giờ? Tôi chưa có đủ hạnh nguyện, tôi chưa nhìn thấy mọi điều một cách sáng suốt, và chưa hoàn hảo để nói điều gì đó, cũng không có đủ trí tuệ để nói về hành trình tâm linh. Vì vậy, tha thứ cho tôi nếu những gì tôi sắp nói sẽ không phù hợp với những mục đích và sự mong đợi của phiên họp này. Dù sao, tôi rất vui khi được tham gia pháp môn UHBE.

Tôi gia nhập thiền UHBE trong năm 2007 ở thành phố Montreal. Tôi đã được anh M. Yun Bunkorn, người bạn Campuchia giới thiệu. Khi tôi đăng ký lần đầu tiên cho cấp 1-2, tôi không biết gì về môn thiền định này. Tôi gia nhập thiền UHBE bởi vì tôi bổng thấy đời sống mình cần có một sự thay đổi tâm linh, và cảm nhận ấy càng ngày càng rỏ rệt.

Cũng như người Mỹ trung lưu bình thường, tôi đang sống trong một thế giới mà mô hình phát triển tùy thuộc vào sự tăng trưởng kinh tế và tiêu dùng. Bạn và tôi đều là những người tiêu dùng. Tôi thức dậy mỗi buổi sáng, tôi đi làm, tôi cố gắng làm việc chăm chỉ để tích lũy của cải vật chất, để cung cấp cho bản thân mình và gia đình tôi một đời sống tốt. Việc tích lũy của cải vật chất đã trở thành ý nghĩa của sự tồn tại của tôi. Hai năm trước khi nền kinh tế thế giới sụp đổ, nhiều công nhân đã bị mất việc làm và nhà cửa, đời sống của họ trở thành bấp bên. Năm ngoái, trong một thành phố nhỏ Quebec, một cặp vợ chồng, cả hai bị mất việc làm cùng ngày. Khi họ về đến nhà, họ quyết định kết liễu đời mình và hai đứa con, bởi vì đời sống kham khổ, bất công và họ không muốn con cái mình sống trong thế giới khủng khiếp như vậy. Vì sao họ có hành vi như vậy? Thật không thể hiểu thấu. Có người đã bị sốc và không hiểu hành động của họ. Có người lên án họ. Có người khác thì không mấy bận tâm. Nhưng một câu hỏi vẫn còn? Tại sao mọi người hành động như vậy? Vì con người ta, sau khi đã gặp tận cùng đau khổ của thế gian này, họ sẽ bắt đầu tự vấn hỏi lòng mình: Muốn thành nhân hay muốn thành danh (sở hữu)? Khi tôi gia nhập thiền UHBE và được giảng dạy pháp Tổ tôi đã quyết định muốn thành nhân. Đó là tôi phải tìm cách để vượt qua nỗi sợ hãi lo lắng của mình, và tôi phải tìm ra con người thật của chính mình.

Là một người Phi châu cuộc sống của tôi bị ảnh hưởng nhiều bởi các mô hình của thế giới hữu hình (thiên nhiên và cộng đồng) và các lực lượng của thế giới vô hình (tổ tiên và tất cả quyến thuộc của thế giới tâm linh). Các nghi lễ là khoảnh khắc thần bí mà qua đó thế giới hữu hình và thế giới vô hình coi như là đến với nhau. Nghi lễ tâm linh rất quan trọng trong nền văn hóa Châu Phi. Trong khi UHBE giảng dạy hướng dẫn chúng ta qua một hành trình tiến hóa tâm linh. Nhờ vào căn bản của tôi, tôi có thể dễ dàng hiểu và hâm mộ giáo lý của Đức Dasira Narada.

Tôi tham gia nghe giảng dạy của UHBE bởi vì đó không phải là một giáo phái hay một tôn giáo. UHBE mở ra cho tất cả các châu lục, tất cả các nền văn hóa, tất cả con người, chủng tộc và tất cả tín ngưỡng. Kitô, Phật tử, người Do Thái, Hồi giáo, Ấn giáo… đều được chào đón.

Nói về sự giảng dạy trong điều trị bệnh theo phương pháp UHBE. Tôi Là một bác sĩ, sự giảng dạy của UHBE cho tôi một kiến thức mới về bệnh tật và cái chết. Sau khi thụ huấn cấp 2, tôi đã thực sự bắt đầu chứng nghiệm kết quả của phương pháp thiền định này. Tôi thích thú sử dụng năng lượng để điều trị bản thân mình và những người khác bằng cách thiền định. Ngay trong những ngày đầu, con người khoa học trong tôi, đã lãnh hội được ý nghĩa của kỹ thuật thiền định này và đo lường tác động tích cực của nó. Tôi đã luôn luôn sử dụng và tiếp tục sử dụng kỹ thuật UHBE để giúp mọi người trong thực tế hàng ngày của tôi. Chóng mặt, đau ngực, hen suyễn, cao huyết áp, dị ứng, đau bụng, bong gân, xuất huyết .... Tôi đã áp dụng kỹ thuật này trong tất cả các tình huống.

Sau khi điều trị, mọi người đều cảm thấy thoải mái và vui vẽ. Họ tỏ vẽ ngưỡng mộ và cùng nêu lên một câu hỏi: Phương pháp này là gì thế? Anh đã học ở đâu? Câu trả lời của tôi luôn luôn là như nhau: "Đây là từ trường năng lượng vũ trụ qua cơ thể con người, UHBE, phương pháp này dựa trên tư tưởng của Đức Dasira Narada. Nếu bạn muốn biết nhiều hơn, hãy đến với thiền đường của chúng tôi".

Một số người hỏi. Chúng tôi có thể tìm thấy kỹ thuật này và giảng dạy trên internet không? Không, không có gì trên internet cả. Nếu bạn quan tâm tìm hiểu về điều này, Thầy sẽ mở một lớp học cấp 1-2 vào tháng Sáu. Đấy là những mẩu chuyện tôi thường có với một số bệnh nhân của tôi.

Triển vọng tương lai của UHBE là gì?

Xây dựng tương lai của UHBE là một nhiệm vụ lớn cho các giảng viên UHBE và tất cả thành viên. Trong một thời gian ngắn, sự phát triển của các Thiền Đường UHBE trên thế giới là một thực tế hiển nhiên. Khi tổ chức các khóa học, pháp môn UHBE cần phải xác định rỏ mục tiêu hay tầm nhìn xuất thế và chia sẻ tầm nhìn đó với những người khác trên toàn thế giới. Mục tiêu xuất thế đó (superordinate) là tư tưởng và tầm nhìn của Sư Tổ Dasira Narada, về một thế giới hòa bình, nhân đức, trí tuệ và tự do. Hiện nay, tư tưởng đó đang được Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải đảm trách. Để hổ trợ cho Thầy Cô, chúng ta cần có một đội ngủ môn sinh năng nổ và có năng khiếu. Đây là điều tối quan thiết. Pháp môn UHBE cần xây dựng một nền móng vững chắc với một hệ thống quản lý chặt chẽ và một hệ thống thông tin văn hóa có kỷ thuật, kỷ luật.

Ngày nay nhiều Thiền Đường UHBE đang hình thành trên nhiều nơi, khắp toàn thế giới. Do đó pháp môn UHBE cần xây dựng một tổ chức mạnh mẽ, với kết cấu vững chắc, để hỗ trợ cho việc giảng dạy tâm linh. Nhiều phương án và mô hình khác nhau cần phải được thiết lập và cũng cố một cách khoa học. Trước hết, Seattle UHBE là Thiền Đường trung ương, phụ trách lảnh đạo cho tất cả các Thiền Đường UHBE trên thế giới. Đây là Thiền Đường UHBE quốc tế. Chúng ta có mỗi nước chi nhánh của UHBE, đó là các Thiền Đường UHBE địa phương trong mỗi nước. Kế đến mỗi quốc gia sẽ có một đại biểu và nhiều trợ lý. Ví dụ như hiệp hội Canada UHBE với các Thiền Đường khác nhau của nó (Thiền Đường UHBE Calgary, Thiền Đường UHBE Vancouver, Thiền Đường UHBE Ottawa, Thiền Đường UHBE Toronto, Thiền Đường UHBE Montreal)....

Một tổ chức vững chắc với một cấu trúc chặt chẽ, sẽ khiến cho tất cả các Thiền Đường UHBE đi theo đúng hướng của trung ương Seattle UHBE, và mục đích tôn chỉ của pháp môn. Chúng ta phải có một đoàn giãng huấn viên tâm linh dưới sự lãnh đạo và hướng dẫn của Thầy Thuận và Cô Hải. Điều quan trọng hàng đầu trong mỗi quốc gia đó là mỗi Thiền Đường phải có một số thành viên có trình độ tâm linh thánh thiện và tiến hoá, những người này sẽ đóng vai trò lãnh đạo sinh hoạt và theo giỏi quá trình tu tiến trong từng quốc gia. Các giảng huấn viên là người có khả năng truyền giảng tâm linh, duy trì tính chất thuần nhất của kỹ thuật thiền định và phối hợp tinh thần hòa đồng giữa các Thiền Đường UHBE trên toàn thế giới. Trong mỗi Thiền Đường UHBE, chúng ta cần một ban điều hành với các thành viên đa năng, đa nghiệp, chủng tộc và văn hóa khác nhau. Ban điều hành có vai trò quản lý Thiền Đường và tổ chức các buổi sinh hoạt.

Pháp môn thiền định của chúng ta là dựa trên căn bản phát triển trí tuệ và tạo dựng công đức, nên từ trước đến nay sự tồn tại của pháp môn là do các môn sinh tự nguyện hy sinh thời gian và tiền bạc của mình để đóng góp cho sinh hoạt của các Thiền đường. Để phát triển pháp môn mạnh mẻ hơn, Trên thực tế , trong giai đoạn sắp tới, chúng ta luôn cần sự yểm trợ của chánh phủ và các tổ chức trong xả hội để hoàn thành nhiệm vụ mà Đức Dasira Narada giao phó.

Cảm ơn các bạn.

NS.29_Cam tuong ve Cap 6

NS.29_Cam tuong ve Cap 6

CẢM TƯỞNG VỀ CẤP 6
Môn sinh David Bogu (Thiền đường Seattle)
Tháng 5 2011

Ngày tôi đến với pháp môn VDPHT trong trí tôi đã có trước những tư tưởng về đạo Thiên Chúa, các điều này đã được truyền dạy từ tuổi thơ của tôi. Lớn lên theo năm tháng tôi thường tự hỏi về những điều tôi đã được giảng dạy. Đôi lần cha mẹ tôi đã cố gắng trả lời trong sự hiểu biết của mình cho tôi.

Một đôi khi tôi đã gặp trở ngại vì đã đặt những câu hỏi này. Tôi được nhắn nhủ là tự mình sẽ được hiểu rỏ hơn khi lớn lên.. Khi tôi đủ lớn thì nhiều câu hỏi hơn lại đến nhưng câu trả lời vẩn ở một nơi nào đó mà tôi không nắm bắt được.

Nhiều năm trước đây, Vợ tôi, chị Sáu, từ một người bạn đã giới thiệu tôi về VDPHT. Vợ tôi bắt đầu đến Thiền Đường và sau đó thì theo những lớp học. Tôi ghi nhận những sự thay đổi tốt đẹp trong cô và sự thích thú khi được đến thiền đường . Cô mong muốn tôi cùng đi và theo những lớp học. Mãi 2 năm sau thỉnh thoảng tôi đã cùng cô đến Thiền Đường nhưng vẩn chưa ghi tên theo học. Cuối cùng 2 năm sau tôi quyết định ghi tên theo học lớp cấp 1 & 2. Khi bắt đầu lớp học tôi muốn để tâm mình mỡ ra . Chỉ sau 3 ngày học tôi đã bắt đầu tìm được câu trả lời về một số câu hỏi tôi đã có trong nhiều năm qua.

Và mặt khác việc được thiền định thì thật là tốt, những điều mà tôi đã mong muốn trong nhiều năm. Tiến qua lớp cấp 3 mọi việc càng tốt đẹp hơn. Và chỉ trước khi lớp cấp 4 bắt đầu khai giảng tôi đã khẳng định đây đúng là con đường tôi muốn chọn lựa, theo đuổi. Lớp cấp 5 thì thực vô vàng khó khăn, nhưng ngược lại càng giúp tôi hiểu rỏ hơn những bài giảng của Thầy Cô Chưởng môn và những bài giảng này đã giúp tôi thay đổi rất tốt đẹp trong cuộc đời mình.

Thực là một danh dự lớn khi tôi được Thầy Cô chọn để theo học lớp cấp 6. Và cũng có một hãnh diện nữa là được theo học với những môn sinh khác không phải chỉ ở TĐ Seattle mà ở các TĐ khắp mọi nơi trên thế giới.

Những lời giảng của Thầy Thuận, cô Hải đã được trình bày với một tình yêu rộng lớn. Sự giảng dạy của Thầy Cô hết sức rỏ ràng, minh bạch khiến cho các môn sinh đã lãnh hội các bài giảng tốt đẹp nhứt. Tôi biết chắc rằng, trong những ngày tới càng nghiền ngẫm tôi lại càng thấu hiểu hơn. Và một điều khác cũng quan trọng không kém đối với tôi là tôi phải áp dụng những bài học này vào được trong cuộc sống hằng ngày của tôi.

Tôi rất cám ơn Sư Tổ đã cho tôi một món quà vô giá. Và đồng thời xin được cám ơn thầy Thuận và cô Hải đã hết lòng giảng dạy cho chúng tôi ở lớp cấp 6 này. Thầy Cô và các bạn đã cho tôi một kinh nghiệm quý báo không thể quên.

Xin được gởi lời yêu thương đến tất cả.

NS.30_Cam nghi ve Cap 6 Vi Dieu Phap Hanh Thien

NS.30_Cam nghi ve Cap 6 Vi Dieu Phap Hanh Thien

CẢM NGHĨ VỀ CẤP 6 VI DIỆU PHÁP HÀNH THIỀN
Môn Sinh Eddie Kwon (TĐ Seattle)
Tháng 5, 2011

Tôi đã có đủ may mắn để tìm đến với pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền 4 năm về trước. Tất cả chúng ta đều có một diễm phúc có Thầy và Cô hiện diện ngay trong cuộc đời của chúng ta để truyền dạy cho chúng ta pháp của Sư Tổ Dasira Narada. Mỗi chúng ta đều trải qua những thử thách riêng biệt khi lên cấp. Một phần của nó là do những nghiệp quả mà chúng ta phải trả, và một phần là do sự thu thập những kiến thức mà chúng ta chưa thật sự hiểu hoặc trải nghiệm qua. Những thử thách đó chính là một quá trình trải nghiệm cần thiết để biến những kiến thức thu thập được thành một sự hiểu biết thật sự. Tôi biết là nếu như tôi thật sự đạt được cái trình độ đặt ra cho môn sinh ở từng đẳng cấp thì tôi đã có thể tự thu thập và hiểu được một phần lớn của những kiến thức đó. Nhưng mà tôi chưa đạt được điều đó, vì vậy mà cần phải trải qua những thử thách khi lên cấp. Thầy và Cô biết rằng chúng ta có rất ít thời gian còn lại, vì vậy đang giúp chúng ta trên con đường trở về nhà. Họ đang giúp chúng ta giữ động lực của mình, cho chúng ta một phương pháp, giúp chúng ta thấy được cái gì là thật và cái gì là không, và giúp chúng ta nghe được sự thật. Nhưng chính chúng ta phải có bổn phận thật sự chấp nhận những kiến thức đó và thật sự sống với nó trong sự hiểu biết. Nếu không thì nó chỉ là những kiến thức chúng ta biết suông mà thôi.

Mỗi lớp học đều có sự đặc biệt riêng của nó. Mỗi lớp học mang đến những kinh nghiệm khác nhau trong lúc lớp học đang diễn tiến và cả trong cuộc sống hằng ngày của tôi sau khi lớp học đã kết thúc. Tôi có thể nói về cuộc sống của tôi đã thay đổi như thế nào, quan điểm của tôi đã thay đổi như thế nào, hoặc là những thử thách mà tôi đã gặp phải và đã vượt qua. Nhưng mỗi chúng ta đều phải trải qua những kinh nghiệm tương tự vào một thời điểm riêng biệt cho mỗi người. Điều mà tôi muốn chia sẽ với các bạn là một cảm giác mà tôi đã trải qua khi học cấp 6. Tôi đã không thể xác định được cái cảm giác này khi tôi học những lớp học trước, nó có thoáng qua trong tôi nhưng không rõ ràng như lần này. Cái cảm giác này thật khó diễn tả bằng từ ngữ, nhưng nó tương tự như một cảm giác mà tôi biết là tất cả các bạn đều đã từng trải qua. Ai cũng có một lần nào đó nghe một điệu nhạc (melody) nổi lên trong đầu. Một điệu nhạc rất quen thuộc, nhưng chỉ là nhạc mà không có lời. Cái điệu nhạc ấy cứ ở mãi trong đầu của bạn, và làm cho bạn ước ao làm sao nhớ ra được bạn đã nghe điệu nhạc đó từ một bài hát nào. Có khi nó còn làm cho bạn bực mình, nhưng dù cho có cố gắng cách mấy bạn cũng không thể nào nhớ ra được bài hát đó. Chỉ đến khi nào mà bạn nghe được hoặc nhớ ra bài hát đó thì bạn mới cảm thấy dể chịu và đầu óc bạn mới được bình an trở lại.

Khi tôi mới đến với pháp môn này, những bài pháp và những lời giảng mà tôi nghe qua đã lưu lại trong đầu tôi, mơ hồ nhưng dai giẳng như cái điệu nhạc quen thuộc ấy. Như không thể nhớ được điệu nhạc đó xuất phát từ bài hát nào, tôi cũng không thể nhớ cụ thể những lời pháp, nhưng nó rất quen thuộc trong tâm thức của tôi. Đó chính là hạt giống tâm linh đã gieo vào linh hồn tôi. Trong quá trình tu học và lên cấp, những lời pháp đó dần dần trở nên rõ ràng hơn, như là có thể nhớ lại từng phần của bài hát rồi toàn bộ bài hát, và điều đó đã làm cho tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Thầy và Cô đã giúp tôi làm sống dậy bài hát tâm linh trong tâm thức tôi. Sau khi học xong cấp 6 thì bài hát đó đã trở nên rõ ràng trong tâm tôi. Tôi cảm thấy như là tôi biết được sự phát triển tâm linh của tôi đã dừng lại ở đâu trong kiếp trước, và bây giờ là lúc phải phát triển nó cao hơn nửa, phải tiến về phía trước. Đó là những gì tôi cảm nhận được trong khóa học cấp 6.

Nếu chúng ta thích một bài hát nào, thì chúng ta muốn nghe đi nghe lại bài hát đó và chúng ta muốn học thuộc lòng, hát lên, và chia sẽ nó với người khác. Cái bài hát trong linh hồn tôi là bài hát chân lý. Bây giờ thì tôi đã biết bài hát này một cách tương đối là rõ ràng và ước muốn chia sẽ nó với những người khác và sống gương mẫu, với hy vọng là điệu nhạc sẽ lưu lại trong linh hồn của những người này, để rồi một ngày nào đó họ cũng sẽ muốn đi tìm bài hát tâm linh đó.

NS.31_Cam nghi sau ngay thu huan Cap 6

NS.31_Cam nghi sau ngay thu huan Cap 6

CẢM NGHĨ SAU NGÀY THỤ HUẤN CẤP 6
Môn sinh Hiếu Lâm
Rosemead, ngày 2 tháng 6 năm 2011

Pháp môn VDPHT không phải là một tôn giáo, mà là một đạo lý,một đạo lý siêu việt ngàn đời khó gặp. Một đạo lý dẫn dắt để đưa con người đi đến chân lý trong một thời gian nhanh nhất. Tại sao? - Bởi vì môn sinh VDPHT sau sáu ngày học, được khai mỡ luân xa. Từ đó môn sinh đã thọ nhận một phương tiện vi diệu mà Tổ ban cho đó là có thể thiền định tự chửa bệnh cho mình đồng thời giúp chữa bệnh cho người khác. Trong quá trình giúp đỡ bệnh nhân đến thiền đường Môn sinh dần dần phát triển tình thương dành cho tha nhân một cách tự nhiên, từ chỗ chỉ biết thương yêu người thân trong phạm vi gia đình trước kia, nay chuyển sang thương yêu thêm đồng môn rồi dần dần chuyển sang thương yêu đồng loại…Phối hợp với luân xa đã được khai mở, đặt biệt là luân xa 4, biểu hiện cho tình thương. Bi tâm của môn sinh từ từ mở rộng dần dần đạt đến Từ Bi, là sự yêu thương, cưu mang, che chở và lo lắng không điều kiện. Mà Bi – Trí – Dũng là tam hồn của bật thánh nhân. Nếu có thể đạt được một trong ba hạnh trên thì hai hạnh kia không còn là điều khó khăn đáng kể nữa.

Muốn có được kết quả vừa nêu trên, môn sinh phải thường xuyên đến thiền đường tu tập. Tại sao vậy? - Bởi vì thiền đường là nơi tập trung những người có cùng tâm đạo, cùng tư tưởng giúp đời, những tư tưởng thanh cao đó hợp lại tạo thành một sức mạnh vô hình, ảnh hưởng đến tần số rung động của những người chung quanh. Nhất là những tâm hồn còn non trẻ, nhờ tầng số nầy mà nương theo trong thời gian mới tập tễnh đến với pháp môn. Ngoài ra thiền đường còn là nơi để môn sinh thực hiện, khai triển phương tiện mà Tổ đã ban cho, qua sự hướng dẫn cuả Thầy Cô. Thiền đường là môi trường tốt nhất để người môn sinh VDPHT từ đó trải nghiệm để rút tỉa cũng như trao đổi kinh nghiệm, trong suốt quá trình tu học pháp Tổ. Cũng có thể nói thiền đường là nơi sản xuất tình thương. Tình thương càng lớn mạnh thì sân hận càng giảm đi. Mà sân hận có giảm thì hạt giống hoà đồng mới có cơ hội nẩy mầm phát triển. Và đạo đức hòa đồng đó là tiêu chuẩn tối thiểu cho sự điểm đạo ở thời kỳ cuối cùng nầy.

Tóm lại, VDPHT là tư tưởng của Đức Sư Tổ Dasira Narada. Đã là tư tưởng thì bao la không thể nghỉ bàn. Tư tưởng ấy đã được Nhị vị Sư Phụ tư duy ra để giảng dạy phù hợp cho việc tu học của con người sống ở thế kỷ 21 nầy. VDPHT được chia ra thành từng đẳng cấp và có sự liên kết rất chặt chẽ và logic để dẫn dắt môn sinh dễ dàng từ từ tiến lên, nâng cao trình độ tâm linh của mình, hầu có thể kịp về trong hành trình phản bổn hồi nguyên…

Người môn sinh nào thực hành đúng những phương pháp đã được hướng dẫn sẽ thấy thân thể khoẻ mạnh hơn, tinh thần sáng suốt ra, gia đình hạnh phúc thêm. những điều may mắn lần lượt đến.

Bản thân tôi đã và đang hưởng rất nhiều ân điển từ Pháp Tổ. Cho nên nhân dịp nầy tôi cũng muốn chia sẽ với đồng môn cảm nhận của mình đối với Pháp môn VDPHT. Hy vọng rằng với những lời nói phát ra từ đáy lòng của tôi sẽ là động cơ thúc đẩy quí vị môn sinh mới hăng hái tiến tu cho lợi ích của mình và của mọi người.

NS.32_Vi dieu

NS.32_Vi dieu

VI DIỆU
Môn sinh Tâm Võ
Môn sinh thiền đường San Fernando Valley
Ngày 17 tháng 11 năm 2011

Cách đây không lâu, vào khoảng bốn năm trước. Tôi đưa chị tôi ra phi trường. Cái lần chia ly đó không giống như bất kỳ một tiễn biệt bình thường nào khác bởi vì tôi hiểu rằng sau cái vẫy tay lần đó chị và tôi sẽ không còn dịp gặp gỡ thường xuyên hay sinh hoạt với nhau trong môi trường của nếp sống thường nhật như trước nữa… Thế là chị tôi đã xuất gia, quyết định khép mình vào dòng nghịch lưu sinh tử để mong tìm được ý nghĩa đích thực của đời người và tìm lại bản lai diện mục, sự thanh tịnh trong sáng vốn có của chính mình... Còn tôi, lại quay về tiếp tục hòa mình vào vũ điệu náo nhiệt quay cuồng của cuộc sống, của những vui buồn, những toan tính đầy phiền muộn, của những hành động tạo tác, cách nghĩ, cách nhìn theo tri kiến của chính mình, theo thói quen của tâm thức đã được hun đúc từ kiếp nào.

Ngày tháng vẫn trôi mau. Ðông đến rồi xuân đi, hoa tàn rồi lại nở, cuộc sống mãi xoay vần cuốn theo những đổi thay không ngừng nghỉ. Nhưng trong tôi, luôn cảm giác một sự trì trệ chậm lụt hầu như không hề biến đổi, có chăng chỉ là chút ít. Nó cứ mãi ở đó, lì lợm bám lấy tôi. Ðó là lòng sân hận đố kỵ, sự ích kỷ nhỏ nhen, những vui-buồn-mừng-giận-thương-sợ-ghét-muốn, bản chất của sự so đo tính toán, tranh chấp hơn thua, sự ngạo mạn thái quá… Tệ hại hơn cả là những vọng tưởng chấp trước luôn quay cuồng trong tâm thức gây ra những xáo trộn tâm lý làm nội tâm mất quân bình, mệt nhoài không phút ngưng nghỉ. Tất cả những thứ này quyện thành một đám mây đen dày đặc bao phủ lấy tôi, chi phối mọi sinh hoạt hàng ngày. Từ sự đi đứng nằm ngồi, hành động, lời nói cho đến cái sâu kín nhỏ nhặt nhất là từng suy nghĩ từng ý niệm mà cũng bị đám mây vô minh đó điều khiển, khống chế. Tôi cảm thấy vô cùng bất lực như một con rối bị điều khiển bởi những sợi giây vô hình trói buộc khắp chân tay. Như một lẽ thường, khi đã nhận thức được rằng mình đang bị ràng buộc bị khống chế thì ai cũng vùng vẫy mong muốn được vượt thoát, được cởi trói. Nhưng khốn thay “mong muốn” và “hiện thực” là hai việc hoàn toàn xa cách. Ai cũng muốn không bực tức không giận hờn, biết ích kỷ, tham lam là việc không nên làm, nhưng liệu có tránh khỏi được chăng?! Ðành rằng đã từ lâu tôi hiểu rất rõ tất cả những ràng buộc, những khổ đau phiền lụy trong cuộc sống đều do chính mình tự tạo ra chứ không do ai khác áp đặt lên cho mình, hay bắt mình phải gánh chịu. Tôi có tìm tòi và thử qua nhiều phương pháp thực hành khác nhau để mong hóa giải những khổ đau, hóa giải những si mê ngu muội, để xóa tan đi những vọng tưởng phân biệt chấp trước nhưng đều vô hiệu. Cái vỏ cứng vô minh vẫn còn trơ trơ ra đó. Trước đây đã sống, sinh hoạt, hành động, suy nghĩ thế nào thì giờ đây vẫn hành sử, suy nghĩ theo tính cách, thói quen như thế đó. Ðám mây đen dày đặc vẫn lơ lững ngay trên đầu, hay nói một cách rõ ràng hơn, chính tôi là đám mây đen dày đặc đó. Có thể trước đây tôi chưa thực hành các phương pháp đó một cách nghiêm túc hay chưa tìm được cho mình một phương pháp thực hành thích hợp và thiết thực.

Bẵng đi một thời gian, vào một buổi sáng rất yên bình, tôi đang lặng yên ngồi nghĩ đến chị tôi. Cũng vừa lúc đó chiếc điện thoại trên bàn reo vang cắt ngang dòng suy nghĩ miên man. Như thế cuối cùng chị cũng đã gọi điện cho tôi sau một thời gian xa cách. Đây là lần đầu tiên chị gọi về sau cuộc tiễn biệt hôm đó. Trước đây, ngày tôi đưa chị ra phi trường nó đặc biệt đối với chị như thế nào thì giờ đây cú điện thoại này cũng đặc biệt đối với tôi thế ấy. Bởi vì những gì chị nhắn gửi đến tôi trên điện thoại đã phần nào quyết định tương lai cuộc sống tâm linh của bản thân tôi. Chị đã giới thiệu đến tôi pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền. Trước khi xuất gia chị cũng đã là môn sinh khóa cấp 1&2 của vi diệu pháp do chính Thầy và Cô truyền thụ.

Phần đông, mục đích của những người tìm đến pháp môn đều để cầu mong tìm được sự an vui trong tâm hồn, nhất là để chữa lành những căn bệnh hiểm nghèo. Trong thâm tâm tôi căn bệnh hiểm nghèo nhất chính là tâm bệnh chứ không phải nơi thân bệnh. Pháp dưỡng sinh rốt ráo chính là pháp dưỡng tâm. Tâm thanh tịnh thì thân sẽ thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh thì hoàn cảnh chung quanh sẽ được thanh tịnh. Ưu, bi, khổ não sẽ không có cơ hội để phát sanh. Bệnh tật nhiễm ô theo đó cũng sẽ không có nguyên nhân để sinh khởi. Nỗi băn khoăn lớn nhất đối với tôi là liệu phương pháp hành thiền này có giúp tôi sửa đổi được thân tâm, xóa tan được những ưu, bi, khổ não do vọng tình chấp trước, có xóa tan được đám mây u ám nặng nề đã huân tập trong tâm thức từ lũy kiếp lâu đời tạo thành cái tri kiến cái thói quen trong tôi hay không.

Theo lời khuyên của chị, tháng tư ngày 28 năm 2008 tôi đã theo học khóa cấp 1&2 tại thiền đường Canoga Park do hai giảng huấn Trường và giảng huấn Lâm đảm trách. Càng đi sâu vào thực hành chữa bệnh và thiền định, tôi càng thấy được nhiều sự vi diệu của pháp môn. Một trong những cái hay của pháp môn là phương tiện giới luật đặt ra rất ít và đơn giản nhưng lại rất đầy đủ, hữu hiệu và thiết thực, dễ áp dụng cho cuộc sống hàng ngày. Ba trong những điều chính đó là:

1. Phải thiền định mỗi ngày
2. Không trị bệnh cho người khác hoặc thiền định trong vòng bốn tiếng đồng hồ sau khi uống bia rượu hoặc chất kích thích.
3. Không đặt điều kiện với bệnh nhân để thủ lợi, không kiêu ngạo tự mãn

Ba giới điều này theo tôi nghĩ, điều thứ nhất giúp các môn sinh luôn giữ được sự đều đặn tinh tấn, không giải đãi lười biếng, xuề xòa qua loa trong việc thiền định tu học. Điều này rất cần thiết, nhất là đối với những môn sinh mới, chưa đầy đủ tín tâm và nghị lực. Điều thứ hai không hề nhắc đến cấm bia rượu, nhưng nó thực sự lần hồi đưa môn sinh bỏ được thói quen ưa thích và hay sống phụ thuộc vào tác dụng của các loại chất kích thích. Điều thứ ba là phương tiện để diệt đi mầm mống tham lam ích kỷ, lúc nào cũng chỉ muốn thủ lợi cho bản thân không biết chia sẽ và giúp đỡ những người chung quanh. Diệt trừ đi cội gốc của phiền não khổ đau là tham, sân, si, mạn những thứ căn bản phiền não hầu như đã có sẵn như một thói quen trong mỗi con người chúng ta. Còn về sự đặt tay giúp bệnh, trông thì đơn giản nhưng nó hàm chứa rất nhiều đức hạnh cao quý của một người tu tập trên con đường giải thoát giác ngộ. Mỗi lần đặt tay giúp bệnh chính là lúc môn sinh phá đi cái ngã chấp, xã thân giúp đỡ mọi người không kể thân hay sơ, chủng tộc hay màu da. Sự giúp đỡ bất vụ lợi, không so đo tính toán, chỉ đơn thuần là cảm nhận được những khó khăn đau đớn của bệnh nhân rồi giúp họ vơi đi những niềm đau nỗi khổ nơi thân và tâm.

Làm được với tâm thái như vậy, chính là người môn sinh đang thực hiện hạnh xã và hạnh bố thí ba la mật, thực hiện được đầy đủ bốn đức tính cao quý: chân thành, thanh tịnh, bình đẳng và thương yêu.

Cái vi diệu của pháp môn là vậy, chỉ cần với sự chú tâm vào thiền định, tuân thủ đúng mực các điều luật, hết lòng giúp bệnh một cách chân thành. Làm được các điều này mỗi ngày thì lần hồi trí huệ sẽ phát sanh. Chỉ với sự thiền định, tuân giữ các giới luật đơn giản, biết thương yêu giúp đỡ tha nhân mà pháp môn đã gói ghém được cả một kho tàng vi diệu ẩn chứa bên trong. Làm được những điều này cũng có nghĩa là người môn sinh đã thực hiện được đầy đủ giới-định-tuệ tam vô lậu học vậy.

Pháp môn thì thù thắng vi diệu như vậy, nhưng bước đường tu học có được kết quả nhiều hay ít, nhanh hay chậm còn tùy thuộc phần lớn vào sự quyết tâm và căn tánh của mỗi người. Riêng tôi tội dày phước mỏng, cái võ cứng vô minh quá sâu dày, lớp mây đen của sân, si, mạn quá đen tối nên sự nổ lực và cố gắng cần phải có nhiều hơn nữa mới mong có ngày hoàn toàn gột rửa được thân tâm, buông bỏ hết thành kiến ngã chấp, xa rời cách nghĩ, cách nhìn sai lầm, từng giờ từng phút sửa đổi hành vi sinh hoạt của chính mình; đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện!!!! Tu học là việc làm của cả đời. Ngày nào còn hít vào thở ra thì ngày đó còn cần phải học hỏi trau dồi. Bỏ được một thói quen, một tật xấu là bớt đi được một ít nghiệp. Giúp được một người, tạo được một niềm vui là trả được một phần nợ đã chồng chất vay mượn trong vô số kiếp.

Nhân dịp mừng sinh nhật Tổ, xin thành tâm cảm tạ ân đức của Sư Tổ đã từ bi soi đường chỉ lối dẫn dắt chúng con vượt qua sông mê, biển khổ. Cũng nhân đây xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đối với thầy cô đã tận tình chỉ dẫn, tạo ra những phương tiện hết sức thực tế để chúng em dễ dàng áp dụng trong cuộc sống. Xin cầu chúc tất cả quý đồng môn được thân tâm an lạc. Mỗi ngày một gặt hái được thêm nhiều điều phúc lành từ việc thực hành pháp Tổ.

NS.33_Phap To co phai la Phat Phap khong

NS.33_Phap To co phai la Phat Phap khong

PHÁP TỔ CÓ PHẢI LÀ PHẬT PHÁP KHÔNG?
Môn Sinh Chương Nguyễn,
Thiền Đường Toronto

Như chúng ta đã biết qua sự dạy dỗ của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA rằng con người đến với thế gian này không phải chỉ để sống, hưởng thụ, rồi chết đi. Vạn vật từ đất đá, hoa cỏ, muông thú, cho đến con người đều phải trải nghiệm học hỏi những bài học từ ô trược tới thanh bai đặng tiến hóa trở về nguồn cội của mình. Nhưng vì trong quá trình học hỏi này, con người đã bám víu vào hoàn cảnh và quên bặt đi cái nhiệm vụ thiêng liêng ban đầu. Càng ngày họ càng đi sâu vào cung mê, sống trong sự trầm luân bế tắc không biết lối thoát. Vì thương chúng sanh nên các Đấng cứu thế đã lần lượt đến với thế gian để chỉ dạy cho con người biết được lối thoát khỏi sự hiểm nguy đau khổ vô bờ bến của cuộc sống tạm bợ này. Các Ngài đã đến qua từng thời kỳ và trong mỗi thời kỳ như vậy các Ngài nhìn thấy chúng sanh có một trình độ, căn cơ, và dân trí khác nhau. Thí dụ như hồi thời Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni đến thế gian này đã gần 2600 năm trước, thời đó con người còn sống trong sự thô sơ, văn hóa, xã hội, và kỹ thuật chưa phát triển nên Đức Phật chỉ nói cho con người lúc đó biết những gì mà Ngài nghĩ là hợp với căn cơ trình độ của họ thời bấy giờ. Cùng một nhiệm vụ với Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Đức Sư Tổ DASIRA NARADA đến với thế gian ở thế kỷ 21 này, Ngài thấy được sự tiến bộ của con người về các mặt như văn hóa, xã hội, và kỹ thuật nên Ngài dạy cho chúng ta những điều mà con người chẳng hiểu được vào 2600 năm trước đây.

Những điều các Ngài dạy cho chúng sanh là những phương tiện. Phương tiện thì có sai biệt tùy theo căn cơ hạnh nghiệp của từng người nhưng chân lý duy chỉ có một. Cũng giống như khi ta muốn đi từ Toronto đến Vancouver, có người đi bằng máy bay, có người sợ lên cao thì đi bằng xe hơi, cũng có người không có xe hơi thì đi bằng xe lửa, đi bộ, v.v…, nhưng rốt cuộc cũng đến được Vancouver; mà thành Phố Vancouver thì chỉ có một. Có điều đi bằng máy bay thì ít tốn thời gian hơn là đi bằng xe hơi, xe lửa hay đi bộ.

Nói về Phật Pháp ta có thể hiểu theo hai nghĩa; nghĩa thứ nhất: Phật Pháp là Pháp phương tiện của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dùng để chỉ dạy con người ở 26 thế kỷ trước. Theo nghĩa thứ nhì, Phật là người giác ngộ, Pháp là phương pháp; vậy thì, Phật Pháp chính là phương pháp của người giác ngộ. Người giác ngộ thì có cái biết chân thật về vũ trụ, về cơ Trời nên các Ngài hướng dẫn chúng sanh đi đúng đường để giúp họ cởi trói sự ràng buộc của trầm luân đau khổ.

Đức Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni, Chúa Jesus, hay Đức Sư Tổ đều là các vị chứng đắc và các Ngài biết rằng chân lý chỉ có một, nhưng vì các Ngài nhận nhiệm vụ đến thế gian vào các thời kỳ khác nhau nên các Pháp phương tiện cũng có khác nhau. Mỗi pháp phương tiện đều cần phải được dạy dỗ thì con người mới hiểu mà làm theo; vì vậy các Ngài dùng ngôn ngữ thế gian để diễn tả truyền đạt các pháp phương tiện này cho chúng ta hiểu. Mà đã nói là ngôn ngữ của thế gian thì lẽ nhiên nó có sự giới hạn của nó.
Cũng như khi nói rằng “muốn hết sự đau khổ thì phải tu sửa để phát sanh trí tuệ, tạo dựng công đức, và giải thoát.” Các từ ngữ “công đức”, tiếng Anh gọi là “nonsuffering merits,” nếu không gọi là như thế thì gọi chúng như thế nào? Phải dùng ngôn ngữ của thế gian mới diễn đạt cho người thế gian hiểu rồi theo đó mà họ hành động. Khi đạt được trí tuệ vô lậu rồi thì không cần dùng ngôn ngữ thế gian nữa ta cũng hiểu tất cả các pháp về nhân sinh, vạn vật, và chân lý vũ trụ.

Đức Thích Ca Mâu Ni đã nói với các đệ tử của Ngài rằng những gì Ngài biết thì như lá ở trong rừng còn những gì Ngài đã nói ra thì như lá trong nắm tay của Ngài. Ngài nói vậy là nghĩa làm sao? Theo sự hiểu biết thô thiển cạn cợt của tôi là vầy: Lá trong nắm tay thì khi nhìn thấy, ta có thể biết cụ thể màu sắc, hương vị, số lượng ít nhiều, và đương nhiên là có giới hạn, có cố định. Còn lá cây trong rừng thì trùng trùng điệp điệp, trừu tượng, vô giới hạn, làm sao cân đo đong đếm được? Chỉ có các vị chứng đắc mới thấy rốt ráo được vậy. Học Pháp Tổ ta thấy Ngài đã dạy những bí mật thâm sâu huyền diệu; đấy chính là những lá cây trong rừng. Mà lá cây trong rừng thì quá nhiều còn tư tưởng của con người thì có giới hạn; vì vậy, nên ngôn ngữ của con người chẳng thể diễn tả nỗi những việc siêu xuất thế gian.

Nói Pháp Tổ là Phật Pháp theo nghĩa rằng Pháp Tổ được trích ra từ Pháp phương tiện của Đức Thích Ca Mâu Ni là chưa rốt ráo. Nhưng nói Pháp Tổ là Phật Pháp theo nghĩa tất cả các Pháp cứu thế là phương pháp của người giác ngộ thì có lý; nhưng con người cố chấp, có tâm phân biệt muốn tìm tòi so đo và chạy theo cái vọng tưởng, cho là Pháp này cao hơn Pháp kia, Pháp kia đúng, pháp nọ sai, chớ họ đâu có ngờ rằng các Ngài dùng những phương tiện khác nhau để dẫn dắt chúng ta trên con đường Đạo đi đến một chân lý duy nhất đó là sự tiến hóa của vạn vật.

NS.34_Cam tuong

NS.34_Cam tuong

CẢM TƯỞNG
Môn sinh Hồng Mai (TĐ Mississauga)

Có bao giờ ta tự hỏi vì sao ta theo học pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền ? Vì sao ta cần phải tu học ? Vì sao ta cần phải có thiền đường ?

Có phải trước kia ta đến với pháp môn VDPHT để trị trên cái thân bệnh, sau đó ta còn được học làm cách nào để trị cái tâm bệnh của mình ? Ta đã được Thầy và Cô, nhị vị trưởng môn hướng dẫn rằng : chính cái tâm ta bệnh, nó làm cho cái thân ta bệnh, mà bệnh cũng là nghiệp, mà nghiệp thì không thể nào hóa giãi được nếu không có công đức . Vậy tạo công đức bằng cách nào để giãi nghiệp ?

Đức Sư Tổ DASIRA NARADA cho chúng ta một phương tiện ở đôi bàn tay đặt bệnh giúp người, hầu hóa giải đi nghiệp của mình đã gây ra từ nhiều đời nhiều kiếp. Ngài còn dạy ta phát triển lòng từ tâm, hy sinh thời gian đến TĐ dấn thân và phụng sự cho mọi người để tạo nên công đức. Mà giúp người cũng có nghĩa là giúp mình. Ngài đã khai tâm mở trí cho chúng ta thì chúng ta phải nương theo đó mà hành xử. Thiền Đường là nơi anh chị em mình tu học, là chỗ dựa tinh thần của linh hồn mình như Thầy và Cô đã dạy. Chúng ta cũng đồng tâm học pháp Tổ, hành pháp Tổ và hiểu được giáo nghĩa của Ngài thì việc làm của ta mới có kết quả. Học đạo mà không hiểu đạo thì việc làm của ta đi ngược lại với pháp môn. Tu là sửa, từ xấu tới tốt. Từ con người vô minh thiếu hiểu biết để trở thành con người sáng suốt có trí tuệ, còn nếu theo Ngài tu học mà ta không sửa đổi tâm tánh, chấp chứa lòng tham lam ích kỷ, tỵ hiềm, chấp ta ngã mạn thì trí tuệ không phát sinh, thì việc làm của ta không có chánh nghĩa. Phần nhiều những người mới tập tu dể bị gãy đổ đường tu là vì họ chỉ nhìn thấy những lỗi lầm sai trái của người khác rồi chấp vào đó không chịu buông bỏ nên đã bị kẹt lại ở cái bài học thấp hèn này. Vì vậy Tổ dạy ta luôn luôn kiểm soát về mình. Trong lúc ta thiền định, tìm cho ra được những lỗi lầm, dù là một khuyết điểm nhỏ. Ta quán về nội tâm, xem tư tưởng, lời nói, hành động của mình có ảnh hưởng đến những người khác hay không ? Những việc ta làm bằng tâm bình đẳng hay vì lòng tự mãn. Bằng tâm chân thật, hay vì lòng ích kỷ. Nếu ta nhìn ra những khuyết điểm đó mà ta quyết tâm sửa đổi thì có nghĩa là ta đã kềm chế được cái phàm ngã của chính mình. Khi tâm thức ta nâng cao theo chiều hướng thiện, cởi bỏ được dục vọng ham muốn thì trí tuệ ta mới sáng suốt nhận định được đúng sai, thì không có ai chiêu dụ và chinh phục ta được. Nhất tâm vững niềm tin ở Tổ, bền lòng trung kiên với Thầy Cô, sát cánh cùng các bạn đồng hướng tu hành như những sợi móc xích kết lại với nhau, thì không có gì có thể bức phá được sức mạnh của tâm bền, trí vững. Chúng ta được may mắn tiếp cận với Thầy Cô và được sự giảng dạy giáo pháp của Tổ, cho nên chúng ta phải chia sẻ những gì chúng ta học hỏi và hiểu biết về pháp của Ngài, và những lợi ích của pháp môn, hầu giúp cho mọi người cùng hiểu biết đường hướng tâm linh mà họ đang theo học, để họ không bị sự cám dỗ bên ngoài lôi kéo, vì học pháp Tổ không phải người nào củng hiểu như nhau, vì căn cơ hạnh nghiệp của từng người khác nhau. Chúng ta đã xuất ra khỏi cái tình thương yêu hạn hẹp của gia đình để phát triển tình thương yêu rộng lớn trong tâm chúng ta, thì TĐ là nơi để chúng ta có phương tiện ban rải tình thương, là nơi đào tạo những linh hồn tu sửa và giúp đời. Chúng ta phải thương yêu và hoà thuận, khoan dung và tha thứ cho nhau để đạt được cái tình thương đại đồng, có như vậy tâm của ta mới đồng tâm với Tổ, thì lực gia trì của Ngài sẽ che chở cho chúng ta. Ánh sáng chân lý của Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta tìm đường trở về nguồn cội. Vì vậy chúng ta phải nhất tâm cộng lực gìn giữ TĐ, duy trì pháp Tổ và hợp tác với các Ngài để dìu dắt những người hữu duyên cùng ta tu học, vì họ là anh em của chúng ta.

Riêng bản thân tôi chuyển đổi rất nhiều kể từ ngày tôi học pháp môn VDPHT này. Cuộc sống của tôi có ý nghĩa hơn. Tôi có thể làm được việc hữu ích cho đời bằng phương tiện Tổ cho. Đời sống tinh thần thảnh thơi hơn. Thân tâm an lạc hơn, vì tôi cảm thấy không còn bị vật chất đời thường lôi cuốn. Nay tôi có một hướng đi mới , một hướng đi tâm linh để tìm về với con người thật của chính mình. Tổ đã đánh thức sự ngủ mê trong tôi, cho tôi biết mình là ai ? Từ đâu đến đây ? và đến đây để làm gì ? Thây Cô là những người thay Tổ hướng dẫn dạy dỗ tôi, vun trồng chăm bón hạt giống bồ đề tâm trong tôi bằng những bài pháp chân lý Tổ, để hạt giống ấy nương theo đó mà đâm chồi nỡ nhụy. Những gì Thầy Cô giảng dạy, tôi khắc tâm ghi nhớ, vì vậy không có pháp cứu độ nào thích hợp với tôi bằng pháp môn VDPHT. Chính pháp môn đã giúp tôi hiểu được chân giã của cuộc sống, để tôi không còn bị lẫn quẩn trong vòng vô minh bao phủ. Nay tôi có Tổ độ trì, có Thầy Cô dẫn dắt và có các bạn đồng hướng tu hành. Đó là niềm hạnh phúc nhất đối với tôi.

Vài hàng chia sẻ,

Thân ái.

NS.35_Niem tin

NS.35_Niem tin

NIỀM TIN
Môn sinh Phạm Bích Chiêu
T/Đ San Fernando Valley

Tôi tỉnh giấc giữa một không gian thật tĩnh mịch và im lắng…ở nhà bây giờ không còn ai, Bích Thủy người vợ gầy yếu, mong manh đã đi làm và Victoria cô con gái út cũng đã đi học.

Mấy chục năm qua ở xứ người, có lẻ đây là lần đầu tiên trong đời, phải nằm đây cô quạnh một mình và không phải làm gì. Làm gì bây giờ khi đi đứng phải chống nạng; sau khi bị té thật nặng, từ trên cao xuống sàn gạch làm vỡ xương chân, phải giải phẫu để ráp nối lại…cũng chỉ vì một tíc-tắc sự lơ đễnh của đầu óc không chú tâm nên mới xảy ra cớ sự.

Phải chi nhớ lời giảng của anh Lâm (giảng huấn thường xuyên nhắc nhở mỗi khi có “pháp” là “Live with present time” (sống với hiện tại) nghĩa là chú tâm vào việc gì mình đang làm; cả lúc khi thiền định thì sẽ tránh được những sự đáng tiếc xảy ra, khi đầu óc , tinh thần không bị chi phối nhiều việc trong một lúc mà đôi khi mình không biết đang làm gì; thiền định cũng được tốt hơn…thì bây giờ đâu phải đau đớn về tinh thần,thể xác cũng như làm khổ vợ con thêm. Thật là giận mình và buồn phiền quá đổi.

Thế nhưng, nhớ lại lời thầy Thuận (chưởng môn) cách đây hơn 5 năm, khi tôi và Bích Thủy dự lớp học khóa 1&2; có được cái quyền là không giận…không giận mình, không giận người, không giận đời_Giận! chỉ tổ làm tăng thêm sự căng thẳng, đem khí xấu vào mình và đôi khi hại mình, hại người khác khi cứ giữ trong đầu và không kìm hãm được để đi đến có những lời nói, hành động xấu xa, tổn hại…và cũng có thể, đây là thời gian mình phải trả cái nghiệp như lời cô Hải (đồng chưởng môn) đã từng giảng giải; cũng như cô nói về cái duyên, cái phận của con người.

Nhắc tới cái duyên , tôi nhớ lại sự đưa đẩy vợ chồng tôi gia nhập vào pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền này, cũng chắc là lúc cái duyên đưa tới. Vợ chồng chúng tôi quen với anh Trường (giảng huấn) và chị Như (vợ anh) thân thiết hơn 20 năm qua. Anh chị gia nhập pháp môn khá dài trước đó, nhưng mỗi khi gặp gỡ, anh chị ít nói về vấn đề thiền định khi không hỏi tới và với bản tính trầm lặng, kín đáo của anh cũng như anh chị biết ít nhiều về bản tính của tôi lúc đó cũng hay ngang ngược và không tin những gì đó mơ hồ, xa lạ, nhất là tâm linh thường thì không thực tế, nên anh chị không tiện nói nhiều gì về pháp môn cũng như sự thiền định…cho đến khi Bích Thủy bị đau cột xương sống, cho dù cô chỉ mới bước qua tuổi 40, còn son trẻ để phải chống chọi những cơn đau ngày, đêm mỗi khi di động. Cuộc sống, tình cảm, tinh thần đã bị xáo trộn ngày càng trầm trọng.

Tôi đã đưa Bích Thủy đi nhiều nơi để chửa trị từ châm cứu, chỉnh xương tới những vị bác sĩ chuyên môn về cột sống v.v…nhưng vẫn không thuyên giảm, chỉ còn giải pháp cuối cùng là…giải phẩu! mà kết quả phỏng đoán là 50/50, nghĩa là có thể tốt hơn hoặc tệ hơn. Trong lúc cả nhà buồn lo, ưu phiền thì chị Như điện thoại thăm hỏi, sau đó thì bảo là sao không thử đưa lên thiền đường để các anh chị chửa trị xem sao. Nothing to lose! (không có gì để mất) Tôi chở Bích Thủy lên thiền đường!

Sau hơn một tháng chửa trị cũng như tham dự lớp học được mở sau đó do thầy Thuận, cô Hải hướng dẫn, vợ chồng có được niềm tin, chuyên tâm thiền định, chửa trị ở thiền đường, Bích Thủy đã giảm thiểu sự đau đớn, tê bại và vài tháng sau đó thì khỏi hẳn; Cô đã mang lại giầy, guốc cao gót mà khi trước khi còn bệnh không hề nghĩ rằng sẽ có dịp mang lại. Bản thân tôi cũng học hỏi được rất nhiều về cách sống về tâm linh, hành pháp…tính khí bớt khó khăn, dần thuần phục, bỏ bớt nhiều thói hư, tật xấu…cảm thấy bình an tự tại, vợ chồng, con cái hòa hợp yêu thương, gia đình vui vẻ, hạnh phúc.

Từ lúc bị tai nạn, ngay cả trước và sau giải phẩu thật là đau đớn và khó chịu cùng cực, nhưng tôi chưa hề bỏ thiền ngày nào. Cùng sự chia xẻ tình thương của người thân cũng như lời thăm hỏi ân cần của tất cả mọi người ở thiền đường đã giúp cho tôi thật nhiều trong việc phục hồi nhanh chóng ở tinh thần lẫn thể xác; nhất là được tận mặt bắt tay thăm hỏi của thầy Thuận, cô Hải khi ghé thăm thiền đường là một niềm vui và cho thêm ý chí, niềm tin mạnh mẽ trên bước đường tu tập.

Ở nơi chốn làm việc, tôi và Bích Thủy cũng thường giúp cho nhiều người khi họ yêu cầu sau khi nghe chúng tôi nói về pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền này; bởi họ cũng hay thắc mắc khi chúng tôi nghỉ sớm để đi lên thiền đường tu tập và nói là giúp cho người bị bệnh.

Với một niềm tin nhất định, vợ chồng chúng tôi đã không quản ngại việc lái xe hơn 2 giờ đồng hồ đi/về sau một ngày dài làm việc , vài lần trong tuần trong hơn 5 năm qua; và chúng tôi mong và tin rằng một ngày nào đó khi đời sống bớt khó khăn hơn, chúng tôi sẽ lên thiền đường hàng ngày để cùng với các anh giảng huấn, các bạn đồng môn cùng nhau tu tập, giúp đỡ người bệnh; học tập về những điều dạy của Đức Sư Tổ Dasira Narada, đệ nhị Sư Tổ Narada Mahathera qua sự truyền đạt của thầy Thuận, cô Hải mà tôi tin rằng đó là những lời dạy chí lý nhất cho cả đời theo tu học.

Nguyện xin nhị vị Sư Tổ độ trì duyên lành cho tất cả mọi người.

NS.36_Cam tuong sau Khoa thu huan Cap 6

NS.36_Cam tuong sau Khoa thu huan Cap 6

CẢM TƯỞNG SAU KHÓA THỤ HUẤN CẤP 6
Môn sinh Lâm Kim Liên
Rosemead, ngày 3 tháng 6 năm 2011

Sau lớp học, nhìn nước mắt Thầy, Cô rơi xuống mà lòng tôi nghẹn ngào. Từng giọt nước mắt ấy đã thấm sâu vào tâm thức của tôi , thúc đẩy tôi hiểu sâu thêm con đường của khoa học tâm linh, và hiểu rõ từng lời giảng dạy của Thầy Cô, qua những bài Pháp quí giá. Do đó tôi quyết tâm cố gắng gìn giữ Thiền Đường, vì hiểu rằng Thiền Đường xây dựng cho mọi người chung hưởng. Nơi đây không có sự phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, giai cấp hay giới tính. Nơi đây mọi người đều bình đẳng trên chân tánh. Có khác chăng là sự hy sinh và dấn thân của từng môn sinh để phụng sự cho tha nhân theo lời dạy của Đức Sư Tổ.

Con đường mà Sư Tổ vạch ra để chúng ta cùng chung tu học: Tu là tự sửa mình, tự quay vào Tâm của mình, nhìn lại mình đã giúp được cuộc đời những gì? Tu tại nhà chỉ là tu cho chính mình mà thôi, không có cơ hội dấn thân nhìn ra ngoài đời! Học thì phải hành, nguyện thì phải làm. Tin Tổ, tin Thầy là phải tin chính mình, đi đúng con đường chỉ dạy của Sư Tổ mà hành pháp. Thiên đường hay địa ngục chính là tâm của ta! Vững lòng tu, hành pháp đúng, đừng để hồn mình đi lạc hướng sẻ bị “ frozen” bảy triệu năm.

Khi nhìn bức tranh mang tựa đề “ về nhà” của Dr. Lisa tặng cho Thầy Cô. Dòng nước chảy xối xả xuôi dòng, tôi cảm thấy biết bao giờ mới bơi ngược dòng về tới Nhà, ngôi nhà tâm linh, ngôi nhà Tổ? Chỉ nguyện rằng phải cố tâm xả thân phụng sự để mau trở về nhà, đó là cội nguồn tâm linh của chúng ta…

NS.37_Cam tuong sau 3 ngay thu huan Cap 6

NS.37_Cam tuong sau 3 ngay thu huan Cap 6

CẢM TƯỞNG SAU 3 NGÀY THỤ HUẤN CẤP 6
Môn sinh Lâm Nguyệt TĐ Rosemead
Ngày 06/02/2011

Sau 3 ngày thụ huấn cấp 6 tháng 5 năm 2011, từ trong tâm em đã nhận ra được Ý của Đức Sư Tổ qua Pháp Thân của Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải là hai Vị Sứ Giả mang nhiệm vụ Thiêng Liêng để giáo hóa và cứu độ nhân sinh vào thời kỳ Mạt Pháp nầy. Mục đích tôn chỉ của Đức Sư Tổ là diệt khổ và giải thoát. Đức Sư Tổ Dasira Narada đã chứng đắc là Tự khai mở Luân xa, Ngài dùng Lục Thông (Trí Đạt thông) của mình để hình thành Pháp thân truyền cho nhân loại, truyền cho hậu thế để phát triển lý tưởng nầy.

 Tại sao chúng ta phải lập thiền đường?

Con người bất cứ ờ thành phần nào trong xã hội ,cho dù giỏi hay dở, giàu hay nghèo, cũng đều có căn nhà đề che nắng che mưa, là nơi trú ngụ hằng ngày, chúng ta đi làm để phục vụ cho gia đình. Thì cũng tương tự như vậy, con người dù khờ khạo hay thông minh , sang hay hèn, thì tất cả linh hồn đều cần nơi trú ngụ đó chính là Thiền Đường. Thiền Đường là trái tim cuả Tổ, là nơi ban rãi tình thương, là nơi để linh hồn hằng ngày đến để tu tập, phụng sự để lập công bồi đức.

 Tại sao chúng ta không thể tu tại nhà?

Phục vụ hoàn toàn, hoàn toàn phụng sự với từ bi. Nếu chúng ta tu tại nhà thì chỉ có tự lo cho bản thân, làm sao có cơ hội để phụng sự cho tha nhân. Thiền đường là nơi tập trung nhiều thành phần, cho ta nhiều bài học khó khăn để tiến hoá, và cũng là nơi tạo ra phương tiện để ta lập hạnh Bồ Tát Tu ở nhà chúng ta ngồi thiền thì chỉ nhận được khí hồng trần. Đến Thiền Đường tự nhiên chúng ta lo giúp người nầy người kia, tâm chúng ta hướng thượng , do đó khi giúp bệnh hay thiền định luân xa chúng ta nhận được thanh khí. Nhận được tầng khí nào là tùy theo sự rung động của tâm linh (thức?) .

 Tại sao chúng ta phải dấn thân hành pháp?

Tâm mưu cầu cho hạnh phúc đại đồng Tâm xây dựng cho mọi người chung hưởng. Đức Sư Tổ Dasira Narada đã tìm ra được hạt giống , Thầy Cô cũng đã cấy hạt giống vào các môn sinh, phận sự các môn sinh tiếp tục đi gieo giống. Đi dấn thân hành pháp là đi phụng sự cho sự tiến hóa của con người, là để phát triển căn lành. Cô thường nói: chúng ta đi giúp cuộc đời đồng nghĩa là chúng ta trả nợ cuộc đời. Đây cũng là phương tiện để môn sinh lập công bồi đức để nghiệp lực giảm dần và công đức gia tăng, dần dần màn vô minh mỏng đi và trí tuệ phát triển.

 Chúng ta học gì trên con đường tu học nầy?

Trên con đường tu học Pháp Tổ ( Vi Diệu Pháp Hành Thiền) qua Huấn Từ của hai Vị Minh Sư, dần dần em cảm nhận tâm đạo hé mở, trí tuệ chớm khai thông. Chúng em là những linh hồn "homeless " không nơi nương tựa, không thực phẩm, được Thầy Cô nhặt đem về tẩy rửa thân , tâm và ban cho Pháp Thực, đây là những thức ăn thượng vị cam lồ, dần dần theo thời gian thì ánh sáng đã xuyên qua màn vô minh để giúp chúng em hiểu được cuộc hành trình tiến hóa của con người. Chúng ta từ đâu đến, chúng ta đến đây để làm gi? , chết chúng ta đi về đâu?

NS.38_Tuong Trinh Ky Niem 5 Nam Ottawa

NS.38_Tuong Trinh Ky Niem 5 Nam Ottawa

TƯỜNG TRÌNH VỀ LỄ KỶ NIỆM 5 NĂM
THÀNH LẬP THIỀN ĐƯỜNG OTTAWA
Môn sinh Lưu Phát
Thiền Đường Ottawa, Canada

Vào ngày 19 tháng 6 2010 Thiền Đường Ottawa hân hạnh tổ chức Lể Kỷ Niệm 5 năm thành lập Thiền Đường. Tất cả đồng môn Thiền Đường Ottawa rất phấn khởi và hoan nghinh chào đón Thầy Cô, cùng các Giảng Huấn và hơn 120 đồng môn khắp nơi. Từ Thiền Đường Vũng Tàu, Seattle, Boston, Vancouver, Calgary, Toronto, Mississauga, Brampton, London và Montreal đến dự Lể và chúc mừng. Tình cảm nồng nhiệt của các đồng môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền đã làm cho bầu không khí hội trường thật ấm cúng.

Bắt đầu buổi Lể khai mạc Thầy cô cùng các Giảng Huấn và tất cả đồng môn nghiêm trang hướng về bàn thờ Tổ và khấn nguyện. Đoàn văn nghệ Thiền Đường Ottawa cất cao lời ca tụng Tổ với bài " Pháp Môn Ca ". Đại diện Ban Chấp Hành Thiền Đường Ottawa đọc thư Chào đón Thầy Cô và tất cả đồng môn. Sau đó thiền đường đọc công văn về lời chúc mừng của Chính quyền Canada và Thượng Nghị sĩ Canada. Vì trong cùng tuần lể này lại có buổi hợp G-20 tại Toronto, nên tất cả các dân biểu và viên chức cao cấp trong chính phủ đều phải đi dự buổi hợp để đón tiếp 20 lãnh tụ từ khắp nơi trên thế giới tới Canada. Do đó họ không thể tới dự Lể của chúng ta được.

Lời chúc mừng của chính phủ và Thượng Nghị Sĩ Canada đã khẳn định sự hoạt động của Thiền Đường và Pháp Môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền, họ đã ca tụng sự đóng góp tốt đẹp của Thiền Đường cho cộng đồng Ottawa về đời sống trong đó bao gồm sức khoẻ và việc phát triển tâm linh. 3 viên chức chính phủ và Thượng Nghị Sĩ sẽ mời Ban Chấp Hành Thiền Đường Ottawa đến trụ sỡ để có cơ hội tường trình thêm về sự phát triển của Thiền Đường Ottawa, và các Thiền Đường khắp nơi trên thế giới. Ban Chấp Hành Thiền Đường Ottawa sẽ cố gắng làm sao được sự công nhận chính thức của Chính Phủ Canada cho Pháp Môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền.

Mỗi Thiền Đường đều có một quá trình phát triển và lịch sử riêng của mình. Thầy Cô đã tận tình chăm sóc và dìu dắt chúng em trong suốt thời gian 5 năm vừa qua. Thầy Cô đã đánh thức cái chân ngã và khôi phục lại được chân tâm của chúng em, để rồi chúng em biết dựa vào Pháp Môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền của Đức Sư Tổ DASINA NARADA để cấp tốc tu hành lập hạnh bồ tác để trở về nguồn cội.

Chúng em mang ơn Thầy Cô và Đức Sư Tổ, chúng em hứa cố gắng trả ơn Thầy Cô, Sư Tổ và trời đất bằng cách phát triển và gìn giữ Thiền Đường Ottawa, cùng tiếp tay với Sư Tổ và Thầy Cô để đón tiếp và giúp tạo phương tiện cho chúng sanh trong vùng Ottawa được theo Tổ và Thầy Cô tu học.

Trong 5 năm qua, mỗi năm Thiền Đường Ottawa đều tổ chức lớp học cấp I & II và kính mời Thầy Cô đến giảng dạy cho chúng sanh hữu duyên. Đồng thời Thiền Đường cũng gởi những anh chị đồng môn sang Thiền Đường trung ương Seattle để tiếp tục lên cấp, thăng tiến tu học. Mỗi thứ sáu Thiền Đường đều tổ chức thiền tập thể và sinh hoạt, đàm đạo để chuyển pháp. Tuy nhiên, trên bước đường tu học trong 5 năm vừa qua không phải hoàn toàn thuận lợi, dể dàng. Môn sinh Thiền Đường Ottawa cũng gặp nhiều khó khăn, thử thách, đã trải qua nhiều bài học chông gai. Chúng em luôn ghi nhớ Thầy Cô thường dạy chúng em rằng Thiền Đường là nơi quy tụ cho những môn sinh hữu duyên, căn cơ cao, cho những môn sinh muốn học, muốn tu. Pháp Tổ, Thầy Cô, Thiền Đường là 1 tấm gương trong sáng, ánh sáng luôn luôn tỏa rộng để hoan nghinh chào đón những môn sinh hữu duyên, nhưng khi họ đã hết duyên, bỏ ra đi thì ta cũng chúc phúc và vẩy tay chào đưa họ. Tấm gương này là chân lý trong đó thể hiện lòng bao dung chúng em luôn cố gắng học theo. Thầy Cô thường dạy chúng em phải luôn luôn cảnh giác và chăm sóc cái chân tâm của mình, đừng để cái phàm ngã làm chủ mình mà bỏ rơi đường tu.

Thiền Đường Ottawa dưới sự chăm sóc của Thầy Cô, Thiền Đường mỗi ngày mỗi mạnh hơn và vững vàng hơn. Vào tháng 8 tới chúng em sẽ dọn qua một thiền đường rộng lớn hơn để cho Anh chị em đồng môn được sinh hoạt thoải mái. Tóm lại Thiền Đường Ottawa hoạt động mỗi ngày một vững mạnh và đoàn kết hơn bao giờ hết.

NS.39_Bai cam tuong Lop Cap 6 - 2011

NS.39_Bai cam tuong Lop Cap 6 - 2011

BÀI CẢM TƯỞNG LỚP CẤP 6 - 2011
Nguyễn Thanh Phước
Seattle 03 tháng 6 năm 2011

Kính thưa Đức Sư Tổ Dasira Narada, kính thưa thầy Cô và tất cả các bạn đồng môn thân thương. Thực là một vinh hạnh, chúng tôi được đề cử tham gia khóa học cấp 6 của pháp môn VDPHT tại Seattle.

Khóa học được diễn ra trong 3 ngày với 53 học viên tham dự, mặc dầu thời gian 3 ngày ngắn ngủi, tuy nhiên đã đem lại cho tất cả các học viên một bầu không khí phấn khởi, tạo được nhiều kiến thức mới hầu có được một hành trang quý giá trên bước đường tu học cũng như trên bước đường thiên lý để trở về nguồn. Vì trong cuộc đời nầy dầu ai có sống được trăm năm rồi cũng phải quay về. Mà đường về quê củ vẫn còn xa thăm thẳm, mù khơi. Nay có được một hành trang quý giá mang theo trên bước đường đó, ta có gỉ? Ta phải có : Tin, Tấn, Niệm, Định và Huệ mà thầy vừa giảng giải cũng như lời quý giá mà Tổ thường xuyên nhắc nhỡ qua lời giảng của Cô và Thầy. Những lời trên luôn là kim chỉ nam trên hành trình tiến tu trong hiện tại và mai sau. Từ năm điều trên ta phải vận dụng bằng tất cả tri thức của mình để phá tan tất cả mọi tà kiến, cố chấp tạo cho ta một niềm tin vững chắc trên bước đường tu học không để bị lung lay. Trái lại phải luôn tin tấn để học đạo, hành đạo dù gặp bất cứ nghịch cảnh nào.

Trong cuộc sống hiện thực, mọi người đều có 2 mái nhà, một là mái nhà thế tục mà ta lúc nào cũng dung bồi bằng hết tâm sức của mình, mái nhà hư uyển mà ai cũng cho là thật, có thật, hai là mái nhà tâm linh thì lúc nào cũng bị quên lãng hửng hờ. Nay ta học được pháp Tổ ta biết được chân thật của mái nhà tâm linh nầy. Đời sống của con người có được đã là khó lắm rồi. Có được một mạng sống mà ta không biết gìn giữ, phát triển tâm thức để hướng thượng, học hỏi đạo pháp, để phát triển tâm linh thì vô cùng phí uổng.

Gẫm cuộc đời thật chẳng có bao lâu.
Làm kiếp người nào đâu dễ có.
DasiraNarada

Để rồi một mai khi vô thường đến ta còn lại những gi? Ta chỉ mang theo cái nghiệp như hình với bóng nầy mà thôi. Một mình ta lặng lẽ rẽ bước trên hành trình vô tận nầy, chỉ có ta và ta thôi.

Thời gian đối với chúng ta trên quả đất nầy thật là ngắn ngủi, nếu ta không biết vận dụng để tạo cho mình một số vốn liếng tâm linh làm sao ta có thể được những tư tưởng quý giá cho kiếp mai sau. Vì thời gian quý giá như thế ta phải tận dụng để học pháp, thiền định để quán cái hiện thực nầy hầu có những bước tiến mới hơn trong đời sống mai sau. Vì vậy, quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, hiện tại không lo lắng mà phải biết vận dụng, để trực nhận thấy được cái pháp sanh diệt, tâm học hỏi và tư duy cho đời sống. Có như thế ta mới không uổng đi một kiếp làm người.

Với chúng sanh trong giai đoạn biến chuyển bất thường này nào là: Thiên tai, tâm trí con người hổn loạn, ngu xuẩn, coi rẽ mạng mình, đã tạo cho thế giới cũng như thế hệ đương thời và hậu sanh một trạng thái vô cùng hổn loạn và bất an.

Nay chúng ta đứng trước một hoàn cảnh hổn loạn và điên đảo này, những diễn biến bất an dồn dập là môn sinh của Tổ ta phải cố gắng hết sức mình để lập tâm cứu đời, cố làm được những gì có thể giải trừ bớt đi những nghiệp chướng, tạo sự yên lành cho tất cả chúng sanh nhân loại.

NS.40_Cam nghi cua Mon sinh Cap 6

NS.40_Cam nghi cua Mon sinh Cap 6

CẢM NGHĨ CŨA MÔN SINH CẤP 6
Môn Sinh Đông Ông
TĐ Seattle 6-3-2011

Trước khi đi học cấp 6 thì em mỗi ngày cũng cố gắng thiền cho hai cánh tay bớt mỏi nhứt và cố gắng nghiền ngẩm những lời Pháp và áp dụng trong cuộc sống của mình.

Sau khi học xong cấp 6, em mới biết là bổn phận của mình phải gánh vác nhiều hơn và phải hiểu Pháp nhiều hơn nữa. Tức là phải tự nổ lực tin tấn thiền định cho tốt để tự đi đến giải thoát cho mình! Chứ Thầy Cô không có cho sự giải thoát đó! Nhiệm vụ của môn sinh cấp 6 phải có niềm tin vào Tổ, Pháp Tổ, Thầy Cô, đồng môn và bản thân mình. Nhờ có niềm tin đó mình mới nổ lực dấn thân, mới có đủ sức và sự hiểu biết để dẩn dắt những môn sinh đi sau mình. Phải có bổn phận bảo vệ Thiền Đường của mình. Vì Thiền Đường là chổ nuôi dưỡng linh hồn của mình và cũng là chỗ cho mình làm công đức và học Pháp. Nên tôn quí gìn giữ, đóng góp tài lực vào nó cho kiên cố và tồn tại. Muốn có công đức thì phải có trí tuệ. Vì có được sự sáng suốt mới làm được những gì Tổ làm, thấy được sự thật chân giã của cuộc đời. Biết buông xả từ từ và không bám víu vào vật chất nữa. Có sinh thì có tử nên mình không có sợ chết. Việc luân hồi như thay áo củ mặt cái áo mới! Còn linh hồn của mình mới là vĩnh hằng. Vì vậy mình nên dành nhiều thời gian sống để vun bồi công đức cho tốt hơn. Tức là tự sửa mình, kiểm điểm mình mỗi ngày, biết phụng sự cho nhân loại thì mới đi đến giải thoát.

Muốn biết mình còn nghiệp ác hay không là nhìn lại cách thiền của mình. Nếu còn nhúc nhích tay chân là còn nhiều nghiệp tức là còn thân bệnh. Thiền mà còn đầu gụt lên gụt xuống nghiêng qua một bên là còn tâm bệnh. Vì tâm không có tập trung vẩn còn loạn động. Nói đến đây em mới thấy được nghiệp ác của em còn nhiều lắm. Em phải cố gắng hơn nữa đem vào tâm những lời Pháp và áp dụng trong đời sống của em để em dừng nghiệp. Và đi trị bệnh cho người khác để mình trả nghiệp. Thiền định làm sao mà cắt bỏ hết những chuyện bên ngoài, quay vào trong nội tâm lắng dịu tìm lại cái Phật tánh của mình sẳn có để có đủ nghị lực và đạo lý dìu dắt những người đi sau.

Và cuối cùng em cũng rất chân thật cảm ơn công đức của Thầy Cô luôn luôn dấn thân, hy sinh, giảng dạy Pháp Tổ cho chúng em nghe và đi khắp mọi nơi ở thế gian để truyền bá Pháp Tổ cho mọi người có cơ hội học được, hiểu được và làm được. Nên mới có được 47 Thiền Đường trên thế giới! Và cảm ơn Tổ đã giao sứ mạng lớn lao nầy cho Thầy Cô để thế hệ sau được hưởng ân phước cao quí nầy!

NS.41_Ban tay tu ai

NS.41_Ban tay tu ai

BÀN TAY TỪ ÁI
Môn sinh Tú Hoa (TĐ Darwin)

Mỗi người trong chúng ta ai cũng có lúc rơi vào vũng lầy đau khổ tuyệt vọng, hay bối rối hoang mang trước khúc quanh của cuộc đời, và tôi cũng không ngoại lệ.

Tôi mất mẹ từ khi lên một tuổi. Và tôi đã được trưởng thành trong tình thương yêu vay mượn của mọi người, không có ai để giải bày tâm sự, và cũng không có ai quan tâm hay hỏi han tôi điều gì, cho nên tôi trở thành ít nói. Bây giờ tôi phải mượn giấy và bút để giải bày tâm sự của lòng mình.

Thật không có gì hay bằng khi có một cánh tay tình thương đưa tới cho ta dựa vào để truyền thêm sức mạnh, để vết thương trong ta được xoa dịu, để nguồn sống trong ta được đánh thức và giúp ta vượt qua được những đoạn đường nghiệt ngã.

Bàn tay ấy tuy không phải là phép mầu, nhưng nó hàm chứa một tình thương bao la rộng lớn, nó có mặt kịp thời và hợp lý để dìu dắt và nâng đỡ sự đau khổ trong linh hồn của tôi. Đó là bàn tay nâng đỡ của ba tôi, người đã dẫn dắt tôi đi trong suốt đoạn đường đời, và đã dìu dắt tôi đi vào pháp môn thiền định vi diệu này. Ông biết được pháp môn nầy là vì ông được các môn sinh, anh chị đi trước giúp xoa dịu đi bịnh tật cho ông trong một cơ duyên ở Darwin Australia.

Là một người hâm mộ đạo phật, nên tôi đặt trọn lòng tin yêu của mình vào pháp môn và cũng nhờ sự thiền định hằng ngày, tôi thấy bản thân mình dần thay đổi, và tôi đã tìm được sự lắng dịu trong tâm hồn của mình, cho dù cuộc sống điên đảo vẩn xoay quanh tôi.

Sự vi diệu nầy giống như một làn gió nhẹ, len lỏi thổi vào tâm thức khiến tôi bừng tỉnh giấc, và giác ngộ được những việc mình làm.

Bằng cả chân tình tôi muốn nói lên đôi lời cảm ơn từ trong đáy lòng mình, cám ơn ba tôi và cô tôi đã hướng dẩn và khuyến khích tôi đến với pháp môn.

Cám ơn những anh chị môn sinh đi trước đã cho tôi thấy được những điều hay lẻ phải đáng nên làm, là xã thân để giúp người.

Đặc biệt là lời cám ơn đến Thầy Cô người đã đem phước duyên này đến cho mọi người trong đó có tôi.

Và Đức Sư Tổ Dasira Narada, Ngài đã ban cho tôi, cùng tất cả những môn sinh, đệ tử của Ngài đôi bàn tay từ ái, đôi bàn tay biết thương yêu người, mà tôi cứ ngỡ rằng đây chỉ là một giấc mơ.

NS.42_Chia se cam tuong

NS.42_Chia se cam tuong

CHIA SẼ CẢM TƯỞNG
Môn sinh Vương Kim Thủy Thiền Đường Seattle

Thật là một may mắn và là một duyên lành, tôi đã gia nhập Pháp Môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền đã được chín năm. Lúc đầu tôi nghĩ thật đơn giản, tôi nghĩ rằng tôi tới đây học thiền định với mục đích cho sức khoẻ. Nhưng sau một thời gian tới thiền đường tôi đã học được rất nhiều điều và có dịp tiếp xúc với Thầy Cô, kể từ đó tôi đã đổi cách suy nghĩ về pháp môn.

VDPHT là một pháp tu học , tôi đã chọn đúng cho bản thân và gia đình mình, bởi vì pháp môn không những chỉ giúp cho tôi về sức khỏe, tinh thần mà còn giúp tôi học hỏi rất nhiều về chân lý. Ngồi ôn lại chín năm tu học tôi cảm thấy thật ngắn ngủi. Trong chín năm học pháp Tổ được Thầy Cô dạy rất nhiều, nhưng vì không có căn bản nên tôi thu thập có giới hạn. Vì vậy tôi luôn mong muốn tiếp tục đón nhận lời chỉ dẩn của Thầy Cô. Tôi biết rằng những bài pháp của Đức Sư Tổ qua sự giảng dạy của Thầy Cô, tôi đã học được rất nhiều điều hay. Tôi nhớ lời Sư Tổ dạy là con của Tổ nếu theo Ngài tu học thì phải có tâm bình đẳng, đạo đức và trí tuệ. Bởi vì có trí tuệ chúng ta mới phân biệt được thế nào là thiện, thế nào là ác. Người thiện thì dùng pháp để cứu đời giúp người, còn người ác và không đạo đức thì dùng pháp để mua danh chuộc lợi. Là con của Tổ và môn sinh của VDPHT tôi luôn luôn lúc nào cũng giữ và duy trì cho trí tuệ sáng suốt bằng cách là tiếp tục học pháp để phân biệt thế nào là chánh và thế nào là tà, thế nào đúng thế nào sai để không khỏi lầm đường lạc bước và để bảo vệ pháp môn. Tôi nhớ Cô thường nhắc nhỡ chúng ta là khi học pháp thì phải hành thì mới có công đức. Còn nếu học mà không hành thì không thể nào có kết quả mỹ mãn. Nhìn lại chính mình tôi luôn cảm thấy rằng hiện tại tôi chưa làm đủ bổn phận của môn sinh cấp 6 nhưng tôi không vì vậy mà dừng bước nên tôi cứ tiếp tục cố gắng học pháp và làm tròn bổn phận của mình. Tôi luôn nghĩ rằng nếu tôi cố gắng thì Tổ lúc nào cũng hộ trì cho tôi. Tôi nhớ lại những lời Cô dạy : " Con đường theo Tổ dài và dài lắm..không dễ mà đi, nhưng nếu ta làm theo những gì Tổ dạy thì lúc nào Tổ cũng giúp cho ta.

Tháng ngày qua tôi cảm nhận càng ngày không thể thiếu pháp tổ trong đời sống của mình. Cho dù cuộc sống có bận rộn thế nào thì pháp tổ luôn ngự trong tâm tôi. VDPHT là một đại gia đình thực tốt đẹp mà tôi luôn muốn gắn bó theo đuổi trong quảng đời còn lại này. Tôi nhớ lại trong một bài thơ Cô viết rằng : " Vững lòng bền chí thị ý chân". Nếu chúng ta vững lòng bền chí thì không ai có thể lay chuyển được chúng ta.

Tôi rất hãnh diện mình là con Tổ là một phần tử của pháp môn, một đại gia đình VDPHT. Tôi có trách nhiệm với pháp môn và những sự hiểu biết của tôi, trí tuệ đạo hạnh của tôi có thể ảnh hưởng đến pháp môn. Những gì tôi nói những gì tôi làm sẽ ảnh hưởng cho pháp môn không chỉ tại thiền đường Trung Ương mà còn chung cho các thiền đường VDPHT trên thế giới.

Sư Tổ Dasira Narada, con thành kính xin Ngài hãy giúp đỡ cho chúng con tâm luôn hướng thượng theo Ngài tu học để được tiến hóa. Vì sự mê muội nên chúng con luôn cần sự hổ trợ và dìu dắt của Ngài, chúng con nguyện cùng dắt tay nhau, giúp đỡ lẩn nhau và cùng chung đóng góp để xây dựng thiền đường. Sống hòa đồng chan hòa tình thương, tình huynh đệ và mở mang kiến thức để hiểu pháp nhiều hơn hầu mang tất cả tấm lòng ra phụng sự nhân loại. Xin Tổ giúp cho chúng con vững lòng bền chí trên con đường tu học, hành pháp độ đời và đồng lòng chung sức để thực hiện lời dạy của Tổ.

Sau đây là một bài thơ ngắn tôi muốn chia sẽ cùng với quý bạn:

Lẳng lặng mà nghe
Lời Sư Tổ dạy
Nếu là con Tổ
Làm đúng theo lời
Trong bài pháp Tổ
Truyền đạt qua lời
Của hai vị thầy
Hãy nghe cho rõ
Những lời Tổ dạy
Điều cần nên làm
Điều ta nên tránh
Lời Tổ đã dạy
Làm theo lời Ngài
Thì Ngài sẽ giúp
Là con của Tổ
Chúng ta hiểu rằng
Đường tu không khó
Chỉ khó không tu
Cứ đi lòng vòng
Chừng nào mới tới
Là một môn sinh
Chúng ta nên biết
Điều cần phải làm
Đó là bảo vệ
Duy trì pháp môn
Hành Thiền Vi Diệu Pháp
Điều cần nên nhớ
Pháp môn có một
Của Đức Sư Thầy
Đó là Tổ ta
Dasira Narada

NS.43_Cam Tuong sau Lop Cap 6

NS.43_Cam Tuong sau Lop Cap 6

CẢM TƯỞNG SAU LỚP CẤP 6
Môn sinh Mã Ái Huê
TĐ Vũng Tàu

Kính Thưa Đức Sư Tổ DASIRA NARADA, kính thưa Thầy Cô và quí vị đồng môn.

Hôm nay tôi xin phép được chia sẻ qua những nhận thức được trong 3 ngày tu học cấp 6 vừa qua của pháp môn VDPHT. Tôi cảm nhận rằng qua lời giảng dạy của Thầy Cô, đã từng bước dẫn dắt các môn sinh hướng thượng với một đạo lý minh triết chưa từng có ở thế gian này. Với đạo lý của hai vị MINH SƯ đã dìu dắt các đệ tử trên con đường tu học để trở về nguồn cội. Cộng với sự thiền định, qua từng cấp tu học, từ cấp 1 cho đến cấp 5. Nếu các bạn đã làm đúng theo những gì được hướng dẫn trong các lớp học, thì đã dần dần các bạn đã giác ngộ nhận ra đúng sai, tốt xấu, để tu sữa thì tâm và thân của chúng ta mỗi ngày một khoẻ mạnh và an vui. Trong lúc hành thiện giúp đời , phải biết thương yêu tha thứ, phải có tâm bình đẳng, giúp đỡ mọi người như là bổn phận, biết dấn thân phụng sự tạo dựng đạo nghiệp vững chắc để đi lên. Trong cấp 6 này, chúng ta sẽ cảm nhận được ngay một sự thanh nhẹ từ chân tâm. Từ điều thanh nhẹ này chúng ta có thể giao hưởng với tần số thanh cao. Lúc bấy giờ chúng ta sẽ hiểu thế nào là Thánh Nhân thì còn gì đau khổ khi ngồi thiền, còn sợ gì anh phàm ngã làm chủ được bản thể của mình, còn sợ gì bị lôi cuốn trở về thế tục.

Nghĩ lại cuộc đời quả thực ngắn ngủi, vô thường, phần đời còn lại của chúng ta, quả thật là đại duyên, có lẽ với căn lành từ bao kiếp nay mới gặp lại Thầy Cô. Tình Thầy Trò sống lại qua bao kiếp, tiếp tục phát triển duyên lành để Thầy Cô dẫn dắt chúng ta trên con đường Tu Học tiến hoá .

Hỡi các bạn! Hãy mở tâm ra để trí tuệ sáng suốt hầu sớm nhận được lời giảng dạy của hai vị MINH SƯ đã dày công, tận sức tư duy ra ĐẠO LÝ siêu việt này dìu dắt cho cả nhân loại, bây giờ con người đang đứng trên bờ vực thẩm, nếu không vượt qua được sự bế tắc, nếu không giải quyết được những mâu thuẫn sẽ đưa con người đến bờ tận diệt. HÃY ĐỀN ƠN TỔ ƠN THẦY CÔ, sự đền ơn có ý nghĩa nhứt là tiếp tay với Thầy Cô hành Pháp giúp đời và phát triển pháp Tổ đến cho mọi người, đó cũng là cách đền ơn của chúng ta.

NS.44_Mung Sinh Nhut To Nam 2011

NS.44_Mung Sinh Nhut To Nam 2011

UHBE
VI DIỆU PHÁP HÀNH THIỀN
THIỀN ĐƯỜNG VŨNG TÀU

MỪNG SINH NHỰT TỔ NĂM 2011
Môn sinh TĐ Vủng Tàu

Nhân dịp đại lễ mừng sinh nhật lần thứ 165 của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA của chúng ta, thiền đường Vũng Tàu cùng với các thiền đường trên toàn thế giới toàn tâm, toàn ý hướng về ngày Đại lễ mừng sinh nhật Tổ và kính cẩn tri ân Đấng toàn năng hằng hữu đã lấy tình yêu thương đem đến cho nhân loại sự chuyển hóa khẩn thiết để đón nhận một đời sống minh triết vẹn toàn.

Với ý nghĩa ấy, là môn sinh Thiền Đường Vũng Tàu tôi muốn chia sẻ suy niệm SỐNG qua lăng kính của pháp môn VI DIỆU PHÁP HÀNH THIỂN như một đóa hoa dâng lên Đức Sư Tổ DASIRA NARADA trong ngày đại lễ này.

Cuộc sống giống như một giòng sông liên tục trôi chảy và biến đổi không ngừng, khi chúng ta đối mặt với cuộc sống chúng ta sẽ không thể hiểu cuộc sống là gì? Thế nhưng sự liên tục trôi chảy vẫn bắt chúng ta phải lo toan những ước mơ, lo âu, sự khắc khoải chán chường và khi tuyệt vọng nhất, chúng ta thường hỏi sống để làm gì? chúng ta đã tìm được gì trong cuộc sống này? và áp lực của cuộc đời luôn đẩy chúng ta đi về phía trước không điểm đến. Nhưng ta đang cần một điểm đến để nhìn lại cuộc đời không lối thoát này và tất nhiên giống như một định mệnh, một điểm đến như một lối thoát cuối cùng dẫn đưa chúng ta bước vào đó là Thế giới tâm linh.

Chúng ta phải hiểu rằng hoạt động của đời sống tâm linh không hề ngăn cách với đời sống hiện tại mà chính hoạt động của đời sống tâm linh là một phần của đời sống hiện tại, không có nghĩa đời sống tâm linh bắt chúng ta gạt bỏ những hoạt động hàng ngày để theo đuổi một điều gì đó trừu tượng, xa vời. Do đó, lại một câu hỏi nữa lại đặt ra cho chúng ta. Vậy thì đời sống tâm linh có khác gì so với đời sống hàng ngày? Có phải đời sống tâm linh là một đời sống cho ra sống, sống thoải mái với cuộc đời thực tại này, khi đi chúng ta biết chúng ta đi, khi đứng chúng ta biết chúng ta đứng, khi ăn chúng ta biết chúng ta ăn. sống một cách ý thức và chủ động chứ không phải là một cuộc sống thụ động.

Và vì thế tôi đã đến với Pháp môn Vi Diệu pháp Hành Thiền như một định mệnh. Kể từ khi chính thức là Môn sinh của pháp môn tôi đã thọ nhận quyền năng của pháp môn một cách trang nghiêm như khai mở luân xa, thiền định, tiếp thu các huấn từ của Thầy Cô Chưởng môn, lời dạy của Thầy giảng huấn và sự hướng dẫn tận tình của anh chị TĐ Trưởng Thiền Đường Vũng Tàu đã cùng đồng hành với các môn sinh của thiền đường trong suốt thời gian qua. Tôi đã tập trung suy gẫm và thiền định nghiêm túc, thời gian trôi qua đến nay đã được 7 tháng kể từ khi bắt đầu nhập môn.Tôi đã nhận ra rằng: Pháp môn đã lấy đi của tôi quá nhiều thứ mà tôi cứ tưởng đó là một phần đời sống của tôi, lấy đi sự hèn yếu của một con người; lấy đi cái tham; sân; si; lấy đi cái hỷ, nộ, ái, ố; đập phá đi cái đền đài trong tôi được xây dựng bằng những giáo điều, lề lối thụ động quen thuộc và đã trao lại cho tôi một điều duy nhất đó là Sự hiểu biết để tôi làm hành trang bước vào Thế giới tâm linh làm người nhập cuộc.

Chúng ta phải ghi nhận điều đầu tiên: Chính vô minh là sự thiếu hiểu biết khởi nguyên cho con người ta xa lìa với sự duy nhất và tiến đến sự chia rẽ, chỉ khi nào sự vô minh giảm bớt thì sự chia rẽ cũng giảm bớt, và khi nào sự vô minh chấm dứt thì chúng ta mới có sự an vui vĩnh viễn.

Trong huấn từ cô Ngọc Hải đã chỉ dẫn môn sinh lời của phật dạy:” Nếu tu hành mà thiếu hiểu biết thì chỉ đi lòng vòng, muốn hiểu biết phải có trí tuệ sáng suốt, muốn có trí tuệ sáng suốt thì phải có thân thể khỏe mạnh, vì không có cái trí tuệ sáng suốt nào ở trong một thân thể bệnh hoạn”.

Là đệ tử của Tổ, chúng ta đã được thừa hưởng một bí pháp cực kỳ vi diệu đưa giá trị của con người lên một bình diện cao mới, thế nhưng chúng ta phải hiểu rằng chúng ta không thể thừa hưởng một cách thụ động như lời thầy Đức Thuận đã giảng dạy: “…Vi Diệu Pháp Hành Thiền để giúp cho chúng ta trực nhận tinh hoa, để trực tiếp xả thân hành pháp, nâng cao trình độ hiểu biết tâm linh để cứu giúp nhân loại...”Và sự hiểu biết đầu tiên trong thế giới tâm linh đó chính là ĐỨC TIN.

Là Môn sinh của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền chúng ta phải có đức tin và hiểu biết về đức tin để làm tiền đề cho việc tu học theo thuyết tiến hóa như lời Tổ dạy, đức tin được chia thành hai loại: Mê tín và Chánh tín. Chúng ta hiểu biết thế nào là Mê tín và Chánh tín?

- Mê tín là một đức tin không có sự hiểu biết, một niềm tin mù quáng không có sự suy xét và sự mê tín này dễ dẫn đến cạm bẫy của sự sùng bái, người mê tín luôn luôn trao trọn gói cuộc đời mình cho đối tượng thần thánh mình sùng bái và đắp chăn ngủ yên đợi phép mầu của vị thần thánh mang tới, khi không đạt được ước vọng họ điên cuồng tiếp tục tạo nghiệp trong vô minh trở thành kẻ cuồng tín nổi loạn.

- Chánh tín là một đức tin vững chắc không lay chuyển, phát sinh từ sự hiểu biết nội tâm của mình, khi một người nhận thức rõ diễn biến của tâm, người đó có thể dứt bỏ nghi hoặc, đạt được đức tin trong sự tu hành. Chúng ta luôn có một đức tin đối với chân lý tối thượng của pháp Tổ và chính chân lý ấy làm toát lên sự bí ẩn kỳ diệu của cuộc sống, làm cho chúng ta hiểu được sự thiếu an toàn trong đời sống hiện tại, chúng ta cảm thấy sợ hãi khi chợt nhận ra những sự thật của cuộc đời, đó chính là nền tảng của đức tin mà chúng ta đã dâng trọn cho pháp Tổ và chỉ có một đức tin vững chắc chúng ta mới có thể chiến thắng được chính chúng ta trên bước đường tu tập như Thầy Chưởng môn đã dạy: “…Trong khi tu tập sửa chữa bao giờ cũng có những bài học cho ta đối diện với trở ngại, phiền não, đau khổ, vì những việc này phải luôn luôn diễn biến tương tục trong thế gian, như thế ta mới có dịp rút tỉa, trau dồi học hỏi để có cơ hội hành pháp lập hạnh cứu đời…”, trong đời sống tâm linh chúng ta phải chấp nhận sự xuất hiện của khảo đảo và coi đó như là một phần của đời sống tâm linh, nó vẫn có giá trị một cách độc lập và chính mỗi lần xuất hiện nó trở thành thước đo tinh thần tu tập của các môn sinh. Như lời cô Ngọc Hải đã dạy: “… Tổ dạy: là Môn sinh của Pháp Môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền không được sợ hãi, trốn chạy hay mong cầu đừng gặp thử thách,vì khảo đảo, thử thách chắc chắn phải có…; Tổ dạy các môn sinh phải biết rằng khi con người bị gục ngã, không phải do sự khảo đảo thử thách mà do sự yếu hèn của linh hồn, là người tu muốn mau về chỗ sáng suốt minh triết, thì đừng có tư tưởng lo sợ khảo đảo, thử thách, gian truân hay nguy hiểm…”. Lúc ấy chính đức tin sẽ trở thành vũ khí tối thượng để lao vào cuộc chiến nội tâm và đức tin sẽ làm cho mỗi trái tim của chúng ta trở nên vĩ đại, biến áp lực của khảo đảo trở thành nhỏ bé để cho chúng ta vượt qua một cách dễ dàng. Đặc biệt hơn nữa khi chúng ta có một đức tin vững chắc vào pháp Tổ thì Tổ sẽ luôn gia trì lực để chúng ta đứng vững trước mọi thử thách.

* Sự hiểu biết về CHUYỂN HÓA TÂM THỨC:

Chúng ta đang ở trong một nguồn mạch của sự hiện sinh, chúng ta đang sống nương tựa vào chân lý của Tổ, chúng ta đã thẩm thấu sự dạy bảo của Thầy Cô Chưởng môn và các huấn từ của pháp Tổ và chúng ta đã hiểu ra rằng, trên đời này chẳng ai làm khổ chúng ta được cả, chính cái tham, sân, si làm khổ chúng ta mà thôi. Khi một niệm tham, sân, si khởi lên mình thì có cảnh khổ tiếp theo, khi niệm tham, sân, si dừng lại, cảnh khổ tiêu diệt. Đơn giản chỉ có thế thôi.!

Và như vậy, không còn cách nào khác hơn chúng ta phải tự bước lên từ vũng lầy, từ địa ngục của sự giả dối khiếp nhược, ngu si, đảo điên cuồng dại của chính mình và của những ước lệ, những khuôn định của giáo điều mẫu mực đến vô lý luôn giam hãm con người, làm cho con người trở nên yếu hèn đáng thương. Chính pháp Tổ đã chỉ ra cho chúng ta thấy được thực trạng của đời sống hiện nay và cho chúng ta một phương tiện vi diệu để chuyển hóa tâm thức. Sự chuyển hóa tâm thức là một cuộc cách mạng triệt để trước những ứ đọng vô lối của đời sống con người, trước khi bàn về sự chuyển hóa, chúng ta phải nói về khái niệm thời gian.

Chúng ta nên hiểu rằng “ thời gian” chính là kẻ hủy hoại và làm biến dạng sự chuyển hóa tâm thức, yếu chỉ của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiến huấn từ của Đức Sư Tổ và lời dạy của Thầy Cô Chưởng môn đủ để cho chúng ta nhận thức rằng sự chuyển hóa trong tâm thức chỉ có ở ngay bây giờ hoặc là không bao giờ. Bởi, thiên đường hay địa ngục, hạnh phúc hay khổ đau, buồn vui phiền trược tất cả đều ở tâm chúng ta mà ra. Chúng ta là một thành phần của xã hội và cũng là một thành phần của thế giới này, sự giao tiếp hàng ngày của chúng ta đã tạo nên khuôn định của xã hội, chúng ta thả vào đời sống hiện hữu những gì thì đời sống trả ngược lại ta thứ đó theo định luật phản lực, do đó chúng ta phải đối diện với đời sống này một cách tích cực và có trách nhiệm để truyền bá tinh hoa của pháp môn đến với toàn nhân loại chứ không phải trốn chạy tìm nơi an trú cho riêng mình, khi tìm hiểu chính mình sẽ phát khởi sự chuyển hóa tâm thức, chúng ta phải thay đổi tận gốc rễ của tâm thức chúng ta một cách toàn triệt, có như vậy chúng ta mới thay đổi được cả thế giới đó cũng là mục đích của pháp môn trên con đường dấn thân và phụng sự nhân loại.

* Sự hiểu biết về THIỀN ĐỊNH:

Thiền là gì? Thật sự thiền không có khái niệm, vì thiền không thể diễn đạt bằng trí năng, bằng sự nghiên cứu giả định hoặc phân tích hay tổng hợp và thiền cũng không có trong kho tàng giáo lý hay kinh điển bởi vì thiền không căn cứ vào văn tự mà người học thiền phải dùng bản thân mình làm dụng cụ khảo cứu. Thiền giúp cho chúng ta đạt tới cái thấy sâu sắc về thực tại, cái thấy này giải phóng cho mình ra khỏi sự sợ hãi, lo âu, phiền muộn, có khả năng chế tác chất liệu trí tuệ và từ bi, nâng cao phẩm chất của sự sống, đem lại cho mình và cho kẻ khác nhiều thảnh thơi và an lạc. Bản chất của thiền là Niệm, Định và Tuệ, ba nguồn năng lượng được chế tác trong khi thiền. Trong Thiền Định chúng ta phải đặt nền tảng cho trật tự đến từ hiểu biết của sự hỗn loạn và sự hỗn loạn này xuất hiện từ bản ngã, vì thế nơi nào có hoạt động của bản ngã thì nơi đó không có thiền định. Những phiền não tham, sân, si, là nguyên nhân của sự khổ đau và ích kỷ của chúng ta, chúng ta phải tìm cách khắc phục chúng, khống chế chúng, và vượt khỏi vòng kiềm tỏa của chúng để trở thành chủ nhân của tâm chúng ta, chúng ta ngồi Thiền để tỉnh thức và nhận biết những chuyển biến trong giòng tư tưởng nhưng “TÂM” vừa là giòng tư tưởng, vừa là sự tỉnh thức và nhận biết Tâm, hãy nhận biết Tâm khi nó tiếp xúc hay rời bỏ trần cảnh.

Phương pháp Thiền giúp phát triển chính niệm rồi sau đó dùng chính niệm để nhận ra chân lý tiềm tàng. Với chính niệm này chúng ta quan sát mọi ý niệm sinh khởi trong tâm, ham muốn, yêu ghét, vui sướng và đau khổ nhận thấy bản chất Vô thường và Vô ngã của chúng và bằng cách này trí tuệ sẽ thay chỗ cho si mê, hiểu biết sẽ thay chỗ cho hoài nghi và trí tuệ tự đem đến cho chúng ta một chân lý sống đó là lòng yêu thương, một hạnh phúc vĩnh cửu và đó chính là chân lý của Đức sư tổ DASIRA NARADA.

“…Cái chân lý mọi người đều chấp nhận
Không biên cương, không giai cấp màu da
Với tình thương nhân loại khá đậm đà
Không vị kỷ, đam mê hay vụ lợi
Chân lý ấy mới thật đầy ý nghĩa….”.

Như vậy, từ sự hiểu biết làm nền tảng cho sự nhận thức về đức tin, nhận thức được về sự chuyển hóa trong tâm thức đến nhận thức về thiền định và chỉ bấy nhiêu thôi chúng ta sẽ giác ngộ chân lý của pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền mà không phải đi tìm bất cứ nơi đâu vì người đi tìm chân lý sẽ không bao giờ gặp được chân lý. Tình yêu thương mang tính nhiệm mầu và huyền bí, chúng ta không biết nó là gì, nhưng chúng ta biết khi nó hiện diện, khi chúng ta đi tìm tình yêu thương, chúng ta phải hỏi nó được tìm thấy ở đâu? Vâng! Nó chỉ tìm thấy ở đây vào lúc này, tình yêu trong quá khứ chỉ là ký ức, trong tương lai chỉ là mường tượng, chỉ có một nơi mà người ta tìm thấy được đó là sự tỉnh thức trong phút dây hiện tại này. Đó là điều mà pháp môn chỉ ra cho chúng ta thấy để thực hiện trên con đường tu tập và hành pháp.

Cuối cùng chúng ta hãy quay vào bên trong chúng ta để chúng ta hiểu biết về mục đích cuộc sống này. Tại sao chúng ta lại muốn thay đổi cuộc sống này? Phải chăng cuộc sống này đã làm cho chúng ta nhàm chán khi nó trống rỗng lặp đi, lặp lại như một cái máy vô tri, vô giác và cuộc sống hàng ngày của chúng ta trở nên đần độn vô nghĩa và đó là động cơ để chúng ta nhận thức được rằng đã đến lúc chúng ta phải thay đổi một cuộc sống minh triết hơn, đó là sự an lạc có giá trị tràn đầy và trọn vẹn hơn. Chính pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền đã trao cho chúng ta phương tiện để làm cuộc thay đổi đó, cuộc thay đổi như một sự chuyển nghiệp từ thân, khẩu, ý. Làm cho con người chúng ta trở về với tinh khôi ban đầu của nó, hãy nhìn vào bên trong tâm thức để tìm hiểu, lắng nghe chính bản thân mình chứ không trốn chạy khỏi nó, hãy phụng sự nhân loại bằng tình yêu thương chân chính của mình đó chính là chân lý của cuộc sống và là đạo lý của pháp môn./.

NS.45_Buc thu tu Thien duong Tay Ban Nha

NS.45_Buc thu tu Thien duong Tay Ban Nha

BỨC THƯ TỪ THIỀN ĐƯỜNG TÂY BAN NHA
Môn sinh Thiền Đường Tây Ban Nha
Castellon, Ngày 24 tháng 7 năm 2011

Thầy Thuận và Cô Hải kính mến.

Trong chuyến hành pháp tại TĐ tây Ban Nha vào tháng 3, Chi Hai đã gợi ý chúng tôi nên chọn trước một tháng trong năm cho việc mở lớp tại TBN và sẽ giữ tháng này trong các năm sau. Chúng tôi nghĩ đây là một ý kiến hay. Chúng tôi chọn tháng 9 là tháng tốt. Chúng tôi không biết điều chọn lựa này có quá vội vả hay vẫn còn có thể xấp sếp được để có giảng huấn trong tháng 9 này. Hiện tại chúng tôi có khoảng 20 học viên cho lớp cấp 1&2 6 học viên cho lớp cấp 3. Vào cuối tháng 9 chúng tôi có thể tổ chức lớp học nếu có giảng huấn, nếu không thể được chúng tôi sẽ tổ chức vào tháng 3 năm 2012.

Chị Hai cho chúng tôi biết có thể chị sẽ không trở lại để phụ trách các lớp học nữa. Chúng tôi biết được là điều hữu lý nếu người giảng huấn là người nói tiếng Anh, như vậy việc thông dịch sẽ dễ dàng và sẽ không mất nhiều thời gian và tốt hơn nữa là ở gần Âu Châu hơn. Chúng tôi biết chắc rằng những giảng huấn từ TĐ Toronto hay bất kỳ nơi nào mà Thầy Cô chỉ định đều xứng đáng như những vị giảng huấn mà chúng tôi đã từng được gặp gỡ tiếp xúc ở nhiều nơi.

Chị Hai và Cô Vina đối với chúng tôi thực là những món quà đặc biệt. Chúng tôi xin cảm tạ thầy cô đã cho phép 2 vị giảng huấn này từ Calgary đã đến chăm sóc cho TĐ Âu Châu. Sự hiện diện của hai vị đã giúp chúng tôi và đã làm cuộc sống của chúng tôi trở nên phong phú hơn. Không phải chỉ đơn thuần từ lời dạy mà từ hành động và cách thức sống của họ. Họ đã là một tấm gương cho tất cả chúng tôi. Họ thật hết sức rộng lượng, khiêm tốn, dễ mến, kiên nhẩn và tận lực. Từ họ đã tỏa ra niềm hạnh phúc, sự bình yên, sự hiểu biết và tình yêu. Họ đã cho chúng tôi những bài học thực quan trọng trong suốt những năm qua. Họ luôn biểu lộ tình thương.. đôi khi chị Hai đã vỗ vai nô đùa! Con đường mà chúng tôi phải theo học. Thật khó cho chúng tôi noi theo nhưng chúng tôi sẽ cố gắng.

Chúng tôi cũng hiểu được nổ lực của họ trong những chuyến đi hành pháp dài, phải mệt mỏi và tốn kém. Và chúng tôi cũng biết được những khó khăn trong các tuần lễ sống chung với chúng tôi, tất cả đều khác biệt từ ngôn ngữ đến tập quán. Và hơn thế nữa chúng tôi đã không nói cùng ngôn ngữ với nhau là một trở ngại thực là to lớn. Nhưng điều đáng nói là họ không bao giờ biểu lộ sự mệt mỏi, họ luôn bình tỉnh và vui vẻ trả lời biết bao câu hỏi của chúng tôi và luôn giúp giải quyết các vấn đề của chúng tôi với lẽ phải và sự thành thực.

Chúng tôi sắp rời xa chị Hai thân yêu, chị luôn luôn ngự trị trong tim của chúng tôi. Chúng tôi lại sắp sửa nhớ những tách cafe và các món ăn, những chiếc kẹo Việt Nam từ bếp của chị. Và chúng tôi cũng lại nhớ đến Vina, thực thông minh, thực dụng và để ý đến từng chi tiết một. Chúng tôi luôn nhìn thấy niềm hạnh phúc ở Cô, ngay cả trong suốt một ngày thông dịch, có chúng tôi bao quanh không để cho cô nghỉ ngơi.

Tháng 10 tới đây là đúng 4 năm thành lập TĐ TBN. Những năm đó thực có nhiều khó khăn cho TĐ, nhưng chúng tôi tin tưởng là chúng tôi đang từng bước học hỏi và cải thiện dần. Những bài pháp của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA đã chuyển hóa chúng tôi và chúng tôi cũng xin được cảm tạ Thầy Cô người đã khánh thành TĐ TBN vào tháng 10 năm 2007. Và một lần nữa xin được cám ơn Thầy Cô đã ban cho chúng tôi 2 người chị thân yêu là chị Hai và Vina.

Tất cả chúng tôi gởi lời cám ơn thực nhiều.

NS.46_Ky Niem 5 Nam Thien duong Ottawa

NS.46_Ky Niem 5 Nam Thien duong Ottawa

KỶ NIỆM 5 NĂM THIỀN ĐƯỜNG OTTAWA
Ngày 19 tháng 06 năm 2010

Vào ngày 19/06/2010, tại Good Companion Center, 670 Albert St, Ottawa-Canada, thành viên Vi Diệu Pháp Hành Thiền hân hoan tổ chức lể kỷ niệm 5 năm thành lập Thiền Đường Ottawa. Lể hội có sự hiện diện của hai vị Chưởng môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền, ông Nguyễn Đức Thuận và bà Nguyễn Ngọc Hải từ thiền đường trung ương Seattle, tiểu bang Washington, cùng nhiều vị đại biểu của các thiền đường Seattle, Boston, Vancouver, Calgary, Toronto, Montreal, Mississauga, Brampton, và Vũng Tàu.

Trong dịp này Thiền Đường Ottawa đã đón nhận những công văn chúc mừng nồng nhiệt từ Thượng nghị viên Senator Honourable Mac Harb, Nghị viên quốc hội Paul Dewar, và Nghị viên tỉnh bang Yasir Naqvi. Các nghị viên đại diện quốc hội Canada khen tặng và cảm tạ những đóng góp thiết thực của pháp môn VDPHT về mặt nâng cao sức khỏe và tinh thần cho cộng đồng và xã hội.

Pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền được thành lập từ năm 1996 tại Seattle-Washington-USA, do ông Nguyễn Đức Thuận và bà Nguyễn Ngọc Hải sáng lập với mục đích cống hiến cho mọi người phương pháp hành thiền và tu học tâm linh, thực tiễn và khoa học, dựa trên minh triết cao siêu duy nhất của Đức Sư Tổ DASIRA NARADA. Mục đích tôn chỉ của pháp môn là hướng dẫn con người diệt khổ và giải thoát.

Pháp môn VDPHT thực hiện đời đạo song tu, và đặt nền tảng trên căn bản từ bi nhân ái, đạo đức hoà đồng, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, văn hóa. Bất cứ ai có tâm tu học, họ có thể là Phật Tử thuận thành, thuộc Hồi Giáo, Thiên Chúa Giáo,… đều có thể thích ứng với pháp môn VDPHT. Thật vậy, hiện nay có rất nhiều các tu sĩ và mục sư chức sắc, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, vỏ sư, giáo sư, kinh tế gia, kỹ thuật gia… đã tham gia VDPHT. Họ đều là những môn sinh thánh thiện của pháp môn. Hằng ngày các môn sinh của pháp môn này đến thiền đường hành thiện. Ở đó họ có cơ hội thể hiện, xây dựng, và tìm thấy tình thương yêu chân thật giữa người với người, không phân biệt không ngăn cách. Họ đã và đang hiến dâng cuộc đời của họ qua tiếng gọi cao cả của chân tâm và lòng vị tha, để giúp mọi người cải thiện đời sống và thức giác, ngỏ hầu giả từ cuộc sống vật chất để tiến tới đời sống tâm linh cao thượng. Họ đã ý thức được rằng tuy Pháp môn VDPHT không phải là một tôn giáo, nhưng cũng là tổng thể của tôn giáo, là chỗ dựa tinh thần cho mọi linh hồn cùng nhau tu tập để tiến hóa.

Ngày hôm nay tổ chức này có 33 thiền đường trên khắp thế giới, bao gồm: United States, Canada, Vietnam, Australia, Spain, Hongkong, Taiwan, Malaysia, Combodia. Riêng tại Hoa Kỳ, một sự kiện trọng đại có tính chất lịch sử đã xảy ra vào ngày 29/05/2010, ủy ban lập pháp tiểu bang California chính thức bang hành bản Nghị Quyết vinh danh và khen tặng sự lợi ích và cống hiến cao quý của Pháp môn VDPHT, trong quá trình phục vụ cư dân tăng cường sức khỏe và phát triển tâm linh. Mọi chi tiết xin liên lạc:

NS.47_Thu cam on cua Mon sinh TD Bac Giang

NS.47_Thu cam on cua Mon sinh TD Bac Giang

THƯ CẢM ƠN CỦA MÔN SINH THIỀN ĐƯỜNG BẮC GIANG
Bắc Giang 17/3/2011

Chúng con xin kính dâng đức sư tổ DASIRA NADARA

Kính gửi :Thầy Cô chưởng môn

Lời đầu tiên , các môn sinh Thiền Đường Bắc Giang ,chúng em xin được kính dâng thầy cô với tất cả tấm lòng thành kính.
Kính thưa thầy cô,khóa học lớp cấp 4 được tổ chức lần đầu tiên ở VIệt Nam tại Tổ Đình đó là ơn gia trì của đức sư tổ DASIRA NADARA là một đặc ân mà thầy cô đã ban tặng cho các môn sinh chúng em.Khi vào đến Tổ Đình ,gặp thầy cô,chúng em đã nhận được sự chăm sóc tận tình như một tình thương bao la của thầy cô đã dành cho các môn sinh chúng em. Từ tận đáy lòng mình,chúng em xin cảm ơn thầy cô thật nhiều.

Kính thưa thầy cô: lời Tổ dạy và những bài pháp mà thầy cô đã giảng trong suốt thời gian của khóa học .Thầy cô đã cho chúng em một kiến thức xã hội ,một ý chí để sống và một bước ngoặc cuộc đời.Chúng em là những đứa trẻ đang đứng ở ngã ba đường được thầy cô dang tay cứu giúp, soi đường dẫn bước cho chúng em đi tiếp đoạn đường còn lại của cuộc đời. Chúng em nguyện làm đúng lời Tổ dạy và mãi mãi là một môn sinh ngoan đạo của thầy cô chưởng môn "VI DIỆU PHÁP HÀNH THIỀN” để đền đáp ơn gia trì của Tổ và những gì mà thầy cô đã ban tặng cho các môn sinh chúng em.

Ban ẩm thực - các anh, các chị và quý đồng môn với những công việc không tên ,không ai bảo ai nhưng tất cả đều bận rộn lo cho lớp học từ cái tăm, chén nước đến bữa cơm chay thịnh soạn và chu đáo . Mọi người ai cũng vui vẻ, hòa đồng, không phân biệt giàu nghèo, tuổi tác, vì tất cả là con của Tổ, là môn sinh của thầy cô chưởng môn "VI DIỆU PHÁP HÀNH THIỀN".

Kính thưa thầy cô:Lớp học cấp 4 kết thúc,giờ chia tay ai cũng bùi ngùi, xúc động ,không nói được nên lời trước bàn thờ đức sư Tổ DASIRA NADARA và Thầy Cô Chưởng môn cùng các môn sinh, chúng em đều có một điều chung luôn hướng về Tổ, làm đúng điều Tổ dạy, áp dụng những hiểu biết của môn sinh cấp 4 để tu học, cứu mình và cứu người.

Chúng con luôn cầu xin đức sư tổ DASIRA NADARA gia trì cho các môn sinh ngày càng tiến xa trên con đường tu học. Chúng em xin cảm ơn thầy cô chưởng môn, cám ơn thầy Lưu, cảm ơn ban tổ chức,ban ẩm thực, cảm ơn thiền đường Hồng Bàng, thiền đường Vũng Tàu đã quan tâm và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho chúng em trong suốt thời gian khóa học vừa qua.
Xin chào thân ái.

NS.48_Cam tuong ve Lop Cap 4 dau tien tai To Dinh VN

NS.48_Cam tuong ve Lop Cap 4 dau tien tai To Dinh VN

CẢM TƯỞNG VỀ LỚP CẤP 4 ĐẦU TIÊN
TẠI TỔ ĐÌNH VIỆT NAM
Ngày 25/02/2011 – 27/02/2011
Môn sinh Thiền Đường Vũng Tàu

Lời mở đầu của Môn sinh VDPHT, Thiền Đường Vũng Tàu là chân thành tri ân tới Đức Sư Tổ DASIRA NARADA, cùng Nhị vị Ân Sư cũng là Chưởng Môn của Pháp Môn,Thầy Nguyễn Đức Thuận và Cô Nguyễn Ngọc Hải.

Kính thưa Thầy Cô và tất cả các Đồng Môn trên toàn thế giới, sau ngày bế mạc lớp cấp 4 đầu tiên tại Tổ Đình ở Việt Nam, chúng em trong lòng rất hân hoan đã cảm nhận được một niềm an lạc và hạnh phúc vô tận, toàn thể Môn Sinh các Thiền Đường ở Việtnam, chân thành cám ơn Thầy Cô đã mở cánh cửa Thiên Đàng tại Hạ Giới thứ nhì này cho chúng em được bước vào tu học những pháp cao siêu hơn của Tổ.

Có một điều vô cùng Vi Diệu là Ban Tổ Chức lớp học cao cấp này không thành lập mà tự nhiên có, mà lại rất là chuyên nghiệp và trật tự không thua gì Thiên Đàng Hạ Giới thứ nhất ở Seattle , nhất là ban ẩm thực của TĐ Hồng Bàng. Hành sử rất chuyên nghiệp như những đàn anh đàn chị tại TĐ Trung Ương Seattle, ngoài các TĐ trong nước còn có những TĐ nước ngoài như TĐ Surrey, TĐ Houston, TĐ Boston,TĐ Rosemead,TĐ Trung Ương Seattle,TĐToronto,TĐ Mississauga.

Thưa các Đồng Môn đây là bước ngoặc lịch sử lớn của Pháp Môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền trên con đường trở về cội nguồn của Thầy và Cô Chưởng Môn đã vươn đôi tay của hai vị dài tới khắp năm Châu để cứu nguy nhân loại.

Chúng ta hãy sát cánh bên Thầy Cô và học hỏi những tuyệt kỷ của pháp Tổ để noi gương sáng của Thầy Cô mà vươn đôi tay mình dài từ nam tới bắc, điều mà những Môn Sinh ở Việt Nam đã thực hành.

Trong những năm qua, tại Việt Nam, một nền móng vững chắc của pháp môn đã được thành hình dần, từ TĐ Bắc Giang gần cuối miền bắc VN đến 6 TĐ trong nam, tận gần cuối miền nam.

Thưa các Đồng Môn, chúng ta đã được gột rửa rất công phu từ Thầy Cô qua Pháp Tổ, giờ đây tâm chúng ta đã và đang trở thành những giọt nước trong sáng tinh khiết của Pháp Môn. Nguồn suối nước tinh khiết này mỗi ngày sẽ dần dần đem lại an vui hạnh phúc cho ngưòi dân Việt và hơn thế nữa từ đây sẽ lan tỏa trên thế giới để cứu độ cho mọi con người. Đó là điều mà tất cả anh em chúng ta đều mong ước và hảnh diện
.
Thưa các Đồng Môn, trong đĩa CD 6 bài pháp của Cô Hải, lời huấn từ trong bài pháp thứ 5 của Cô Hải vô cùng tha thiết, nhắc nhở đệ tử thật là tỷ mỹ và cặn kẽ, thời gian không còn nữa, chúng ta không thể cứ mãi chờ đợi.

Chờ con cháu thành đạt
Chờ con cháu thành gia thất
Chờ trả nợ hết căn nhà
Chờ lãnh tiền già cho trọn gói

Chờ cho tới khi đi không nổi, mắt không thấy, tai không nghe thì lúc đó mới tính tới chuyện đi hành pháp giúp đời,như vậy có xứng đáng là Môn Sinh VDPHT là con của Tổ là đệ tử của Thầy Cô Không ?

Bản thân tôi sau khi thọ hưởng được Pháp Tổ, tôi đã buông bỏ tất cả, chỉ một thời gian rất là ngắn ngủi mà tôi lại được nhiều hơn tất cả những gì tôi đã có trong suốt cuộc đời mình. Tu học pháp Tổ mình phải biết mình là ai ... thì việc buông bỏ và hành pháp sẽ vô cùng dễ dàng

Tôi hy vọng những chia sẻ nhỏ bé này cũng là hồi chuông đánh thức nhắc nhở các Đồng Môn năng động hơn, nổ lực hơn và hy sinh nhiều hơn nữa và quay về địa phương của mình để xây dựng Thiền đường hầu trả ơn nơi đã cưu mang mình.

Là Môn Sinh của VDPHT chúng ta phải phấn đấu để phát huy Pháp Tổ, ứng dụng Pháp Tổ qua lời giảng dạy của Thầy Cô vào đời sống hàng ngày cho mỗi cá nhân, mỗi gia đình và những người thân quen biết, để chúng ta có thể đóng góp cho cộng đồng, cho xã hội, cho quê hương và cho toàn thể nhân loại.

Một lần nữa xin chân thành cám ơn Thầy Cô Chưởng Môn và các Giảng Huấn đã cố gắng thực hiện mở được những khoá học cho Môn Sinh tại các Thiền Đường Việt Nam trong 6 tháng nay, và cầu chúc tất cả Đồng Môn tinh tấn trên con đường tu học, gặt hái được nhiều công đức trên con đường tu học.

NS.49_Dien van Mung Sinh Nhut To

NS.49_Dien van Mung Sinh Nhut To

DIỂN VĂN MỪNG SINH NHỰT TỔ
Môn sinh Kim (Thiền Đường Surrey)
Ngày 14 tháng 10 năm 2011

Kính thưa đức Sư Tổ DASIRA NARADA, Thầy Cô Chưởng Môn, Ban Giảng huấn và các anh chị em đồng môn.

Xin các bạn một tràng pháo tay nồng nhiệt dâng lên Đức Sư Tổ DASIRA NARADA, kính mừng đại lễ Sinh Nhựt lần thứ 165 của Ngài, kính xin Ngài chứng minh cho tấm lòng thành kính và tri ân sâu xa của chúng con dâng lên Ngài.

Kính thưa thầy cô thật là một hạnh phúc bất ngờ khi mà TĐ Surrey chúng em được thầy cô và các anh chị đến để cùng tham dự ngày tổ chức mừng sinh nhựt Tổ. Xin các bạn một tràng pháo tay thật nồng nàn nói lên lời cảm tạ về sự quan tâm và ưu ái của thầy cô và các anh chị TĐ Seattle dành cho chúng em, đã khích lệ cho buổi lễ hôm nay thêm phần náo nức và long trọng!

Kính thưa Đức Sư Tổ DASIRA NARADA, cuộc đời của chúng con từ khi hữu duyên được làm môn sinh của Ngài, tâm hồn con cảm thấy ấm áp, dẫu biết rằng mình vẩn trôi dạt giữa biển trần đau khổ, nhưng chúng con đã không thấy bị lạc loài, bởi vì đâu đâu chúng con cũng cảm thấy có bàn tay Ngài che chở!

Và tâm của chúng con từng ngày được mở rộng nhờ sự thương yêu, giáo hóa của nhị vị ân sư,thêm nữa các luân xa kể từ ngày được khai mỡ, sức nhiệm mầu quả đã vượt quá trí tượng của chúng con! Dùng đôi bàn tay, theo lời Ngài chỉ dạy, dọc theo đường đời cứu khổ, phò nguy! Nhưng đường đời cũng còn lắm thị phi, nên cũng có lúc chúng con phải ngậm ngùi tan tác..! Dẫu như thế nào chúng con cũng một lòng vững bước, nguyện trong tâm mong báo đáp ơn Ngài! Ơn thị hiện cứu muôn người tỉnh thức.

Kính xin Ngài gia hộ, độ trì lực cho chúng con, những môn sinh theo Ngài tu học, luôn giữ vững được tâm tánh thanh cao, lòng từ luôn rộng mỡ, thương yêu và giúp đỡ, tha thứ và hòa đồng, độ mình rồi độ người, luôn tỉnh thức để hành trì Bồ Tác Đạo.

Chúng con nguyện học hiểu chân lý cao siêu của Ngài để lại và siêng năng thực hành lời dạy của Ngài.

Đời giúp ta sáng trên đường đạo.
Ta giúp đời trong lúc lâm nguy.

Chúng con huynh đệ đồng môn, luôn khuyến khích nhau, an ủi nhau, cổ vỏ nhau, cùng chung xây dựng và bão trì Thiền Đường, nơi tịnh độ giữa trần gian mà Tổ đã xây dựng cho chúng con, có chỗ để tu học, có nơi để lập công bồi đức, trả nợ cho đời, cô” gắng theo cho kịp cơ tiến hóa của trời đất.

Kính thưa Đức Sư Tổ DASIRA NARADA

Một lần nữa chúng con xin chân thành cảm tạ ơn thị hiện của Ngài ở thế giới ta bà này. Chúng con đồng tâm chúc mừng sinh nhựt lần thứ 165 của Ngài, Đức Sư Tổ muôn vàng kính yêu của chúng con!

NS.50_Cam tuong cua Leslie Booth

NS.50_Cam tuong cua Leslie Booth

CẢM TƯỞNG CỦA LESLIE BOOTH
Môn sinh của TĐ Mississauga

Tôi tên là Leslie.

Tôi trở thành môn sinh của pháp môn VDPHT kể từ sau khóa học 12-17 tháng Sáu năm 2010 do Thầy Thuận và Cô Hải hướng dẫn.Nhân duyên tôi đến với VDPHT là nhờ anh Lê ở Hamilton. Tôi đến tiệm giặt ủi của anh Lê vào tháng Tư năm 2010; có một ngày, anh Lê hỏi tôi, sao không đi làm? Tôi nói với anh rằng tôi có bịnh rất là nặng; tôi bị tiểu đường loại II phải lệ thuộc vào chất insulin; tôi bị huyết áp cao, bị chứng hạ huyết áp và xây xẩm khi đứng, và nhiều triệu chứng rối loạn huyết áp khác, bị loét bao tử, lo âu, trầm cảm, nôn mửa mỗi ngày, bị chứng đau nửa đầu, bị tiểu đường, biến chứng của bịnh trên võng mạc khiến tôi sẽ bị mù. Do đó người chủ công ty đã từ chối không cho tôi làm việc. Anh Lê hỏi tôi rằng có muốn anh giúp truyền năng lượng để chửa bịnh không? Thoạt tiên, tôi không tin và không quan tâm, nhưng cuối cùng tôi cũng đến nhờ anh giúp, tôi cảm thấy dể chịu khi được truyền năng lượng. Tôi nói rằng ở tình trạng này tôi sẽ làm theo bất cứ điều gì. Tất cả mọi chuyện bắt đầu từ đây.

Tôi đến tiệm giặt ủi của anh Lê khoảng chừng 3 lần mỗi tuần và được anh Lê giúp tôi liên tiếp 2 tháng. Sau đó anh Lê lại hỏi tôi có muốn đi học để được khai mở luân xa không? Cũng giống như tất cả quí vị ở đây. Tôi trả lời vâng. Anh Lê lại hỏi tôi rằng, nhờ anh chở thêm một người nữa cùng đi học với anh được không? Tôi nói vâng; từ đó tôi gặp Bernie. Thế rồi Bernie cùng với tôi và anh Lê đã đến khách sạn Days Inn ở Toronto từ ngày 12 đến ngày 17 tháng Sáu năm 2010. Vào ngày 13 tháng Sáu, sau buổi học thứ 2, khi tôi trở về nhà và tháo giày ra, tôi để ý thấy một vòng đen xung quanh chiếc vớ trắng của tôi. Rỏ ràng đó là một chất lỏng màu đen đã được trục xuất từ chân trái của tôi. Tôi thật là sợ, nhưng để ý không thấy vết thương hay máu từ chân tôi. Đó là một ngày thử thách nhất của tôi, ở pháp môn VDPHT, tôi gần như muốn bỏ học. Tôi rất là sợ, người tôi cứng đờ ra. Nhưng mà có một động lực vô hình nào đó từ bên trong hối thúc tôi hãy cố gắng lên, đừng bỏ học.

Tôi đã tham dự hết khóa học, tôi và Bernie được tốt nghiệp, và sau đó tôi bắt đầu lái xe đi Mississauga mỗi tuần. Chúng tôi đến Thiền Đường để thiền định và được giúp truyền năng lượng mỗi tối thứ Hai, thứ Tư, và thứ Sáu. Cho đến hôm nay, chúng tôi đã lái đi Thiền Đường Mississauga hơn 25.000 cây số. Kết quả là tôi đã giảm dùng thuốcTây, 80% đã biến mất; giảm chích insulin 25%, tôi không còn bị xây xẩm choáng váng. Ngày xưa mỗi khi đứng dậy, tôi luôn bị chóng mặt và lảo đảo muốn té nhào, chứng này đã biến mất, hoàn toàn biến mất. Bây giờ tôi đi bộ được nửa dặm (1/2 mile) mỗi lần, trước khi mới học thiền tôi chỉ đi bộ được 2 blocks đường là phải dừng lại nghỉ.

Hồi đầu năm nay tôi kiếm được một việc làm mới, nhưng chỉ kéo dài được 3 tháng. Tôi không tiếc và vui vẽ bỏ đi, vì công việc này không cho tôi có điều kiện đi sinh hoạt ở thiền đường. Bây giờ tôi đang chờ kết quả thử nghiệm về tim trong tháng này. Tôi hy vọng là tôi có thể trở lại làm việc theo nghề bình thường của mình.

Bây giờ VDPHT là yếu tố quan trọng nhất trong cuộc sống của tôi, tôi sẽ không bao giờ rời khỏi VDPHT. Tôi đang được mạnh khỏe hơn, vui vẽ hơn, hạnh phúc hơn, và lạc quan nhất về tương lai của tôi hơn bao giờ hết.

Những thành viên VDPHT là những vị tiên nhân ái, họ thương chúng ta, họ giúp trị bịnh cho chúng ta mỗi ngày mà không đòi bất cứ điều gì. Quý vị có biết đã từng được ai giúp mà không mong đền trả? Những môn sinh trong các thiền đường của VDPHT đã làm công việc này mỗi ngày.

Bây giờ các bạn đã có được năng lực trị bịnh cho mình và giúp trị bịnh cho người khác. Không ai có thể lấy đi năng lực của các bạn. Tương lai của các bạn thật rỏ ràng; nhưng các bạn phải nhớ rằng: các bạn chưa được trải nghiệm qua nguồn nặng lượng thật sự của vũ trụnhư những môn sinh VDPHT. Khi các bạn đến Thiền Đường, và được các môn sinh đặt tay lên cơ thể các bạn, các bạn sẽ cảm nhận nguồn năng lượng vi diệu truyền qua thân mà bạn chưa bao giờ từng trải nghiệm qua trong đời mình. Hãy hình dung, 8 bàn tay đặt lên cơ thể bạn cùng một lúc, đẩy độc khí ra khỏi cơ thể bạn. Năng lực này các bạn chưa bao giờ cảm nhận trong đời mình; đó là năng lực của Tình Thương (the power of Love). Đó là lý do mà tất cả chúng ta đến với Pháp môn, để thật sự thừa hưởng nguồn năng lực thiêng liêng này, ngỏ hầu hoá gỉải cho mình và giúp hoá giải cho người khác. Đó cũng là lý do mà tôi đã đem vợ tôi Shawn, em gái tôi Jenifer, và bạn tôi Bernie đến đây. Và đó cũng là lý do mà tôi đã quảng bá VDPHT bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào.

Tôi xin cám ơn Đức Sư Tổ Dasira Narada, Thầy Cô, anh Quang, chị Tín và tất cả các thành viên VDPHT. Quý vị là biểu tượng của tình thương và Sứ giả của Thượng Đế.

Chân thành cám ơn.